Chính phủ kiến tạo

1. Trong Rừng Na Uy của Haruki Murakami có một nhân vật khá thú vị, tên là Nagasawa. Nagasawa đẹp trai, nói được nhiều ngoại ngữ, con nhà giàu, và học ở đại học Tokyo danh giá. Trong ký túc xá ai cũng nể sợ Nagasawa, kể cả ông quản lí. Thế mà Nagasawa lại chơi thân với Toru Watanabe, nhân vật chính, một người được mô tả là không có gì đặc biệt – từ nhan sắc đến khả năng đến hoàn cảnh gia đình. Hai người thành bạn qua một sự kiện hơi lạ. Watanabe đọc “The Great Gatsby” ở căn tin. Nagasawa đi ngang qua, thấy tựa đề cuốn sách và bắt chuyện. Anh cho rằng Watanabe khác biệt: không phải ai cũng đọc “The Great Gatsby”, và ai đọc cuốn sách này là loại có đẳng cấp. Nagasawa chỉ đọc những tác phẩm của những tác giả đã chết được vài chục năm, vì tác phẩm vĩ đại phải được thử thách bởi thời gian. Sau khi tốt nghiệp, Nagasawa không thừa kế gia sản kếch sù của gia đình mà vào Bộ Ngoại giao Nhật Bản làm việc.

2. Noryangjin là một bộ phim Hàn Quốc nói về Mo Hee-joon, một thanh niên hơn 30 tuổi đầu vẫn chưa có một việc làm ổn định. (Nhân vật Mo Hee-joon do Bong Tae-gyu thủ vai, đây là diễn viên xấu trai hiếm hoi trong làng siêu sao Hàn nhưng đóng rất hay.) Hee-joon đã trượt kì thi công chức rất nhiều lần, lần gần nhất thiếu có 1 điểm. Buồn chán, anh ra cầu định tự vẫn, và vô tình gặp Yoo-ha, một cô gái xinh xắn từng là một gymnast. Yoo-ha cũng tính ra cầu để kết liễu cuộc đời, nhưng thấy Hee-joon bựa quá thế là cô bỏ ý định tự vẫn luôn. Dĩ nhiên là từ đây duyên hai người gắn với nhau, và vô số điều lãng mạn hài hước xảy ra. Cuối phim, Hee-joon thi đậu công chức.

3. Ở Brazil có một câu chuyện cười thế này. “Hai con sư tử xổng chuồng. Một con núp vào rừng, lâu lâu có người đi ngang qua thì nhảy ra ăn thịt. Con còn lại núp ở một toà nhà nọ. Sau một thời gian thì cả 2 con đều bị bắt, trả về sở thú. Con trong rừng thì ốm o, còn con trong toà nhà thì béo tốt. Con ốm đói hỏi, mày núp ở đâu mà ngày càng béo tốt thế này? Tao núp ở toà nhà của một bộ nọ trong chính phủ. Mỗi ngày tao ăn thịt một thằng công chức. Tụi nó không nhận ra sự khác biệt gì, thế là hằng ngày tao chén đều đặn một thằng. Hôm nọ tao chén thằng pha cà phê, cả cơ quan không có cà phê uống, thế là bị phát hiện.” Bài học: bộ máy nhà nước cồng kềnh kém hiệu quả, có mất nhiều công chức cũng chả tạo ra khác biệt gì.

4. Nhiều nhà lãnh đạo, các nhà kinh tế học, các nhà hoạch định chính sách, và cộng đồng phát triển quốc tế (international development) rất hứng thú với sự vươn lên của các nước Đông Á (Nhật Bản, và về sau là Hàn Quốc, Hương Cảng, Đài Loan và Tân Gia Ba) vào thế kỉ 20. Họ gọi đó là “East Asian Miracle”. Có hai lí thuyết chính được đề ra để giải thích: neo-liberal (tạm dịch: “tân tự do”) và developmental state (không biết dịch thế nào, tạm dịch “chính phủ kiến tạo”).

5. Những người neo-liberal cho rằng để có được phát triển kinh tế, những nước nghèo cần tự do thương mại (free trade), thị trường tự do (free market) không có sự can thiệp của chính phủ (no government intervention); chính phủ chỉ đóng vai trò tối thiểu như bảo vệ những thứ căn bản như quyền sở hữu tài sản (property rights) và đảm bảo hợp đồng (contract enforcement) mà thôi. Nói chung, mọi thứ cứ để thị trường lo. Chủ nghĩa này rất được nhiều người thích, nhất là những người có hình ảnh về hệ thống công quyền tương tự trong truyện cười 2 con sư tử Brazil. Cái gọi là “East Asian Miracle” chẳng qua cũng chỉ là sự áp dụng các chính sách tự do này mà thôi. Báo cáo “The East Asian Miracle Project” của World Bank vào 1993 đã tuyên bố: công thức đằng sau chỉ là “getting the prices right”. Thị trường sẽ định giá mặt hàng, chứ không phải chính phủ. Chính phủ trợ cấp cho ngành sản xuất nào đó là đang gây nhiễu thị trường, giá cả vì thế sẽ không phản ánh giá trị thực, công việc sản xuất sẽ không được tối ưu.

6. Những người theo trường phái developmental state thì lại cho rằng chính phủ đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Nếu không có chính phủ bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước thì còn lâu Nhật mới có Toyota, hay Hàn mới có Hyundai. Peter Evans, một nhà xã hội học ở UC Berkeley, có một lập luận rất hay. Ông cho rằng không phải nhà nước nào cũng như nhà nước nào (states are not generic), và vì thế không phải sự can thiệp của nhà nước (state intervention) nào cũng là xấu. Một nhà nước predatory (có hại, luôn tham nhũng, ăn chặn của dân, làm kinh tế trì trệ) hay một nhà nước developmental (luôn kiến tạo cho phát triển kinh tế) tuỳ thuộc vào việc liệu nhà nước đó có cái gọi là “embedded autonomy” hay không.

7. “Autonomy” trong “embedded autonomy” nghĩa là gì? Nó có nghĩa là bộ máy công quyền (bureaucracy) mang tính độc lập, không bị ảnh hưởng bởi lợi ích tư (autonomous, independent of private interests). Để có được điều này, bộ máy công chức phải có một sự gắn kết đoàn thể (corporate coherence) nhất định. “Corporate coherence”, Evans chỉ ra, gồm hai thứ. Một là tuyển dụng dựa trên thực tài (meritocratic recruitment). Anh biết ai, không quan trọng. Anh giỏi, đó mới quan trọng. Hai là cơ chế thăng tiến/thưởng lâu dài (long-term career advancement/rewards). Vị trí công chức không phải là vị trí “dead-end”, vào làm mấy chục năm thì cũng ngồi mãi vị trí đó, mà phải có hệ thống thưởng và thăng tiến những người làm lâu năm. Có thể hiểu nôm na là coi bộ máy nhà nước như là một tập đoàn tư nhân. Tập đoàn yêu cầu người giỏi và theo lâu dài. Thường chúng ta không tưởng tượng nhân viên tập đoàn lớn vụ lợi, ăn chặn cho mình, mà thường nghĩ họ rất trung thành với tập đoàn.”Corporate coherence” sẽ giúp kìm hãm những mục tiêu, hành vi vì tư lợi.

8. Từ “embedded” nghĩa là bộ máy công chức này được “nhúng” trong xã hội. Tức là những người công chức không phải chỉ ngồi văn phòng, mà phải có mối quan hệ với các nhóm trong xã hội, đặc biệt là giới kinh doanh, công nhân, nông dân… Mối quan hệ và các kênh liên lạc để bàn luận, đàm phán (negotiations) giữa bộ máy công chức và các nhóm trong xã hội phải được thể chế hoá (institutionalized). Khi mà bộ máy công chức có mối quan hệ thiết với các nhóm đối tượng trong xã hội, họ sẽ có nhiều thông tin để hoạch định chính sách được tốt hơn. Ví dụ, ở Hàn thời Park Chung-hee (và kể cả hiện tại), chính phủ làm việc mật thiết với các tập đoàn lớn (chaebol). Ở Nhật, bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (Ministry of Economy, Trade, and Industry – METI) luôn làm hết sức mình để bảo vệ lợi ích ở nước ngoài của các công ty, tập đoàn như Mitsubishi, Toyoka…

9. Những nước đông Á (Nhật, Hàn, Đài Loan, Hương Cảng và Tân Gia Ba) là những nước có cơ cấu gần với “embedded autonomy”. Phần lớn đều có truyền thống thi tuyển công chức: từ thời phong kiến đã có các kì thi tuyển quan lại. Các cơ quan nhà nước quyền lực ở các xã hội này đều tập trung rất nhiều người giỏi. Một phần rất lớn sinh viên các đại học hàng đầu như Đại học Quốc gia Seoul hay Đại học Tokyo đều thi công chức sau khi tốt nghiệp. Các bộ danh giá như bộ ngoại giao, bộ công thương… đều là điểm đến hàng đầu của các sinh viên ưu tú. Không phải ngẫu nhiên mà ta bắt gặp các hình ảnh học điên cuồng chỉ để qua được kì thi tuyển công chức, hay người giỏi lại không làm tư nhân mà vào chính phủ, trong phim, truyện Nhật, Hàn. Ngẫm lại thì Nagasawa và Hee-joon không hẳn là quá khùng điên khi đầu quân cho chính phủ. METI được người Nhật mệnh danh là “cơ quan nhân sự” bởi đây là nơi đào tạo ra các lãnh đạo giới chính trị, kinh doanh và kể cả giới học thuật. Ngoài ra, METI còn nổi tiếng về môi trường tiến bộ và tự do (liberal).

10. Các nước châu Phi thường vắng bóng của một bộ máy nhà nước mạnh và không bị ảnh hưởng bởi lợi ích tư lại thường là những nước kém phát triển. Ấn Độ và Brazil nằm lưng chừng giữa “developmental” và “predatory”. (Mình nghĩ VN cũng nằm trong khoảng này. Hiện tại thì làm nhà nước ở VN chỉ được nghĩ là “ổn định”, chứ vẫn chưa đạt được “meritocratic” và lương bổng chưa đủ cao để hút người giỏi nhất. Và nó lại quá to.) Nhật, Hàn và các nước đông Á khác thì chắc chắn nằm ở đầu “developmental”. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa bộ máy chính phủ các nước này cồng kềnh. Nhiều báo cáo đánh giá, bộ máy ở Nhật “inexpensive, small, and elite”. Chính phủ kiến tạo nhiều không nhất thiết là chính phủ to bự. Nhưng nó phải là một chính phủ chủ động, không phó mặc mọi thứ cho thị trường. Để đạt được phát triển kinh tế, cần:

  • xây dựng một bộ máy công chức dựa trên khả năng kĩ trị với hệ thống thăng tiến và thưởng hậu hĩnh, chứ không dựa trên sự trung thành với tư tưởng chính trị
  • thể chế hoá các kênh trao đổi, đàm phán giữa chính phủ và các nhóm xã hội, chứ không hoạt động theo cơ chế top-down (nhà nước ra chỉ thị, xã hội thi hành)

11. Hãy viết ra 3-5 gạch đầu dòng: bạn nghĩ gì khi nghĩ về người công chức VN?

  • Thích ổn định
  • Lương thấp
  • Khả năng trung bình
  • Khó xin được 1 suất công chức/khó thăng tiến nếu không có quan hệ
  • Phải “chân trong, chân ngoài”: tận dụng vị trí của mình để làm công việc kinh doanh bên ngoài.

Hãy viết ra 3-5 gạch đầu dòng nữa: bạn nghĩ gì khi nghĩ về nhân viên tập đoàn nước ngoài lớn, như Unilever hay Amazon?

  • Lương cao.
  • Giỏi.
  • Tuyển dụng dựa trên thực tài.
  • Có khả năng thăng tiến nếu làm việc tốt và lâu năm.

Dĩ nhiên không phải ai làm tập đoàn lớn cũng giỏi, và không phải tập đoàn nào lương cũng cao. Nhưng cũng ít ai nghĩ sinh viên giỏi và tham vọng chạy đua thi công chức thay vì khởi nghiệp hay ứng tuyển cho các tập đoàn hàng đầu sau khi tốt nghiệp.

12. Tham khảo:

  • Báo cáo 1993 của World Bank: “The East Asian Miracle: Economic Growth and Public Policy”
  • Giới nghiên cứu đánh giá báo cáo 1993 của World Bank: “Miracle or Design? Lessons from the East Asian Experience” của Albert Fishlow, Catherine Gwin, Stephan Haggard, Dani Rodrik, và Robert Wade
  • Về tầm quan trọng của bộ máy nhà nước: “Embedded Autonomy: States and Industrial Transformation” của Peter Evans
  • Vai trò của chính phủ trong việc phát triển kinh tế ở Đài Loan: “Governing the Market: Economic Theory and The Role of Government in East Asian Industralization” của Robert Wade
  • Vai trò của chính phủ trong việc phát triển kinh tế ở Hàn Quốc: “Asia’s Next Giant: South Korea and Late Industrialization” của Alice Amsden.
Advertisements
Posted in Xã hội | Leave a comment

Kinh tế, môi trường, và trách nhiệm của giới hàn lâm

1. Tháng 4/2016, cá chết hàng loạt ở vài tỉnh miền trung VN. Nguyên nhân điều tra là do một nhà máy hoá chất của Đài Loan, Formosa, đã xả chất thải chưa qua xử lí. Nhiều người cho rằng điều này là tất yếu: muốn phát triển kinh tế phải đánh đổi về mặt môi trường. Cụ thể, nếu có chính sách môi trường quá khắt khe thì sẽ dẫn đến việc làm ít đi cho người dân, hoặc lương bị cắt giảm bù vào chi phí môi trường.
2. Ở Mỹ, người dân thích gắn mác “liberal” hay “conservative” cho nhau. “Liberal” thường chỉ những người bầu cho đảng Dân Chủ (Democratic Party), còn “conservative” chỉ những người cùng thiên hướng chính trị với các chính sách của đảng Cộng Hoà (Republican Party). Các chính trị gia “conservative” thường bỏ phiếu phủ quyết các đạo luật bảo vệ môi trường, với lập luận rằng những đạo luật này sẽ làm mất đi việc làm và thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên, đây chỉ là một giả thuyết, chưa được kiểm chứng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng ít việc làm vì luật môi trường khắt khe hơn chỉ là một hiệu qủa tiêu cực nhất thời ngắn hạn, và về dài hạn, quản lí chặt chẽ vẫn tốt hơn cho người dân. W. Reed Walker, một nhà kinh tế học nghiên cứu Clean Air Act được Hoa Kỳ thông qua vào 1990, chỉ ra rằng tuy đạo luật này làm cho công nhân làm trong các nhà máy mất 5.4 tỷ đô, mất mát này rất nhỏ so với lợi ích dài hạn. (Jenna Ruddock có một bài phân tích khá hay về việc bảo vệ môi trường làm hại việc làm ở trên trang medium.)
3. Hans Rosling là một bác sĩ, nhà dịch tễ học người Thuỵ Điển. Năm 1979, ông cùng vợ và hai con nhỏ chuyển tới Mozambique, một nước thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha ở châu Phi. Trước đó vài năm, ông gặp Eduardo Mondlane, người sáng lập Mặt Trận Giải phóng Mozambique. Mondlane nói Mozambique sẽ gặp rất nhiều khó khăn sau khi giành được độc lập từ Bồ Đào Nha. Rosling kể lại rằng, Mondlane từng bắt tay ông và nói, “Promise you will work with us.” Sau này, dù Mondlane đã qua đời, Rosling vẫn giữ lời hứa trở thành bác sĩ duy nhất của hơn 300,000 người dân ở bắc Mozambique. Năm 1981, một nữ tu sĩ người Ý viết thư cho ông, mời ông đến nơi bà đang làm việc để chữa một chứng bệnh liệt cả hai chân kì lạ mà người dân trong vùng đang mắc phải. Những người bị bệnh này ăn một loại sắn đắng để sống. Đây là loại cây lương thực duy nhất sống được trong vùng khô hạn này. Loại cây này hoá ra chứa một loại chất độc, chỉ có thể được giải nếu ngâm sắn nhiều ngày. Tuy nhiên, vì khô hạn không có nước, nên người dân bỏ qua bước này. Cuối năm 1981, Rosling trở về Thuỵ Điển và trở thành giảng viên, chuyên về y tế công cộng ở các nước kém phát triển châu Phi. Rosling thấy rằng các đồng nghiệp và sinh viên ở phương Tây không hình dung được “extreme poverty” là như thế nào. Ola, con trai của Rosling, cùng với cha mình đã làm một phần mềm đồ hoạ giúp hình dung dữ liệu về thế giới, được cung cấp bởi Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Liên Hợp Quốc (United Nations). Thế giới đã có một bước tiến dài trong việc xoá giảm đói nghèo, và Rosling rất vui vì việc đó. Ông tiếp tục dùng khả năng giúp công chúng hình dung thực trạng thế giới một cách chính xác, cho mọi người thấy thế giới này đang từng bước tốt đẹp hơn. Hans Rosling là một ví dụ điển hình của một nhà khoa học luôn trình bày các nghiên cứu và “facts” một cách dễ hiểu, để đem một hình ảnh chính xác hơn về thế giới đến với công chúng. Ông vừa qua đời ngày 7/2/2017 sau một thời gian bị ung thư, hưởng thọ 68 tuổi. (Trang Nature có một bài rất hay về ông.)
4. Trong tâm lí học có hai khái niệm rất hay. Một là “echo chamber”. Tưởng tượng rằng bạn có một cái tô to trùm quanh đầu mình. Khi bạn nói gì thì tiếng của bạn sẽ được vọng (echo) lại. Kết quả là bạn chỉ nghe được những gì mình nói. “Echo chamber” ý chỉ việc chúng ta sống trong những cộng đồng có tư tưởng giống mình nên chỉ nghe thấy được những ý kiến giống của mình, nhất là trong thời đại social media. Facebook có thuật toán chỉnh newsfeed sao cho người dùng chỉ đọc được những tin tức có cùng với thiên hướng chính trị với họ. Kết quả là người Mỹ “liberal” thì sẽ mãi đọc tin tức từ các trang  cánh tả, người Mỹ “conservative” thì sẽ mãi đọc các trang cánh hữu/cực hữu. Khái niệm còn lại cũng khá liên quan, là “cognitive dissonance”. Đại loại rằng, khi bạn nhận được một thông tin trái với niềm tin của bạn (vd như bạn tin rằng Sài Gòn đang ngày càng đi xuống, nhưng lại vừa đọc được rằng kinh tế Sài Gòn đang phát triển), bạn có xu hướng bỏ qua thông tin đó để giữ vững niềm tin của mình. Hai khái niệm này giải thích khá rõ vì sao xã hội Mỹ khá chia rẽ, nhất là sau khi Donald J. Trump trở thành tổng thống.
5. Để có một cuộc tranh luận thực sự hữu ích, nơi sự thật và khoa học được tôn trọng, thì người dân cần có một nguồn thông tin khách quan và dựa trên khoa học. Nếu không thì tranh luận sẽ chỉ là một đấu trường của âm lượng, nguỵ biện và xảo ngôn. Giới hàn lâm, những người được trang bị kĩ lưỡng nhất để tìm hiểu về sự thật trên thế giới này, lại bị phê phán là sống trong tháp ngà (ivory tower), xa rời với quần chúng và thực tế. Những nghiên cứu của họ không ai hiểu được trừ bản thân họ. Điều này khó tránh được, bởi đi tìm sự thật không phải là điều đơn giản, mà là điều rất phức tạp. Tuy nhiên, để có được những cuộc tranh luận hữu ích, chúng ta cần những người như Hans Rosling, những “phiên dịch viên” kết nối giới hàn lâm và quần chúng nhân dân. Suy cho cùng, quyền quyết định rơi vào tay người dân, vì họ sẽ là những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Để quyết định sáng suốt, người dân cần được trang bị những kiến thức, tri thức chính xác, xác thực về thế giới này. (Hiện ở Mỹ, một nhóm nhỏ các nhà kinh tế học đã lập ra EconoFact, một trang chuyên cung cấp các “facts” và phân tích kinh tế một cách dễ hiểu, để người không được đào tạo sâu vẫn nắm được.) Suy cho cùng, để dân chủ thực sự hoạt động tốt, chúng ta cần giới hàn lâm chịu khó ra khỏi tháp ngà thường xuyên hơn.
Posted in Mỹ, Xã hội | Leave a comment

Tôn giáo và cực đoan

1. Thủ phủ Topeka của tiểu bang Kansas (Hoa Kỳ) có một nhà thờ gọi là nhà thờ Westboro Baptist, được thành lập vào năm 1931 bởi Fred Phelps. Nhà thờ có tầm 40 thành viên. Tuy nhiên, đây không phải là nơi bình thường. Westboro Baptist nổi tiếng (chính xác hơn là tai tiếng) với các hoạt động kì thị của mình: anti-LGBT, anti-Hồi giáo, anti-Do thái, thậm chí anti cả Công giáo và Chính thống giáo (Orthodox Christianity). Các thành viên hay biểu tình ở các lễ tang của binh sĩ Mỹ, người đồng tính, hay ở trước bảo tàng Holocaust về nạn diệt chủng Do Thái. Có lẽ đáng chú ý nhất là biểu tình với băng rôn “Cảm ơn Chúa vì 11/9”. Westboro Baptist cho rằng những sự kiện nhiều người chết này là Chúa đang trừng phạt loài người đã sống không đúng theo tôn chỉ của Chúa. Mặc dù tôn chỉ của nhà thờ Westboro Baptist là “không bạo lực”, tuy nhiên nếu Hoa Kỳ không có xã hội pháp quyền thì không chắc nhóm này sẽ leo thang tới đâu. Trong lịch sử đã có nhiều cuộc chiến, thanh trừng đẫm máu nhân danh Chúa.

2. Ashin Wirathu là một nhà sư Phật giáo ở Miến Điện. Tuy nhiên, đây không phải là một nhà sư bình thường. Ông là lãnh tụ tinh thần của Phong trào 969, một phong trào kì thị và chống lại người theo đạo Hồi ở Miến Điện. Phong trào này cho rằng Miến Điện đang đứng trước nguy cơ Hồi giáo hoá, và với tư cách là những nhà sư và Phật tử “yêu nước”, tất cả cần đứng lên chống lại người đạo Hồi. Gần đây, nhiều người Rohingya thiểu số theo đạo Hồi ở Miến Điện bị trục xuất, nhiều trường hợp bị giết bởi các đám đông Phật tử và nhà sư. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) báo cáo có rất nhiều vụ bạo lực (có sự giúp đỡ của Nhà nước và quân đội Miến Điện) với người đạo Hồi nơi đây. Đáng chú ý nhất, năm 2016 người Rohingya theo đạo Hồi bị sát hại bởi quân đội và Phật tử cực đoan ở bang Rakhine. Aung San Suu Kyi, lãnh tụ phong trào dân chủ ở Miến Điện, không hề lên tiếng chỉ trích. “Phật giáo cực đoan” nghe khá buồn cười, nhưng là một chuyện có thật, không chỉ ở Miến Điện mà còn ở các nước khác như Thái Lan và Sri Lanka.

3. Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ, Donald J. Trump, vừa qua ký sắc lệnh cấm công dân từ 7 nước Hồi giáo nhập cảnh vào Mỹ, kể cả khi họ đã có thẻ xanh. Biểu tình lập tức nổ ra. Trump phải thay đổi một sắc lệnh của mình một chút, và Reince Priebus, Chánh văn phòng Nhà Trắng, tuyên bố sửa đổi rằng “những người có thẻ xanh có thể nhập cảnh”. Lí do Trump đưa ra sắc lệnh này là để bảo vệ công dân Hoa Kỳ khỏi những kẻ đạo Hồi cực đoan. Chính quyền Trump và nhiều người Mỹ tin rằng đạo Hồi cực đoan là vì trong giáo lí. Nếu chỉ vào ISIS và al-Qaeda và kết luận Hồi giáo cực đoan, thì ta hoàn toàn có thể nhìn vào Westboro Baptist và 969 và nói rằng Thiên chúa giáo và Phật giáo cũng cực đoan. Bất kì tôn giáo nào cũng có nhánh cực đoan, và tuỳ thuộc vào điều kiện xã hội, lịch sử mà liệu sự cực đoan này có thể được phát triển hay không.

4. Bảy nước bị cấm gồm có Iran, Iraq, Somalia, Sudan, Libya, Yemen và Syria. Tuy nhiên, có một chi tiết khá thú vị. Bloomberg và Fortune chỉ ra rằng Trump không cấm những nước Hồi giáo mà tập đoàn của ông có quan hệ làm ăn, như Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ. Tờ Telegraph của Anh, một tờ báo trung hữu (centre-right) và bảo thủ (conservative), cũng nói rằng sắc lệnh của Trump không cấm những nước có liên quan đến vụ khủng bố 11/9 là Ai Cập, Các Tiểu Vương quốc A rập Thống nhất, và Saudi Arabia. Đáng chú ý hơn, nhánh hồi giáo chính thống ở Saudi Arabia, Wahhabism, là một nhánh được đánh giá cực đoan bởi nhiều học giả nghiên cứu Hồi giáo.

5. Nói tí về Iraq. Tổng thống 43 George W. Bush ra lệnh đánh chiếm Iraq, lật đổ Saddam Hussein. Chiến thắng của Mỹ đã để lại một khoảng trống quyền lực ở Iraq – một điều kiện thuận lợi cho các nhóm Hồi giáo cực đoan nổi dậy.

6. Nói tí về Iran. Vào năm 1953, Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA), với sự hợp tác của Anh, đã thành công trong việc lật đổ Thủ tướng Mohammad Mosaddegh được bầu một cách dân chủ. Mỹ thiết lập chế độ quân chủ ở Iran, đưa Mohammad Reza Pahlavi lên làm vua Iran (Shah of Iran). Nếu nhìn vào lịch sử, sự bất ổn của Trung Đông luôn có bàn tay của phương Tây góp vào. Khủng bố không tự dưng xuất hiện. Và nếu cứ mãi gieo gió, thì bão sẽ mãi tới, ngày một mạnh hơn.

Posted in Mỹ, Xã hội | Leave a comment

First they came for…

First they came for the Muslims, and I did not speak out—

Because I was not a Muslim.

Then they came for the intellectuals, and I did not speak out—
Because I was not an intellectual.

Then they came for the women, and I did not speak out—
Because I was not a woman.

Then they came for me—and there was no one left to speak for me.

(Original version here, by Martin Niemöller)

Posted in Linh tinh, Mỹ | Leave a comment

Trích dẫn

The Sympathizer (Viet Thanh Nguyen)

“It seemed as much of a crime to commit a cliché to paper as to kill a man […]”

“Besides my conscience, my liver was the most abused part of my body.”

“Isn’t that what education is all about? Getting the student to sincerely say what the teacher wants to hear?”

“Some will undoubtedly find this episode obscene. Not I! Massacre is obscene. Torture is obscene. Three million dead is obscene. Masturbation, even with an admittedly nonconsensual squid? Not so much. I, for one, am a person who believes that the world would be a better place if the word “murder” made us mumble as much as the word “masturbation.” Still, […]”

“As Hegel said, tragedy was not the conflict between right and wrong but right and right , a dilemma none of us who wanted participate in history could escape.”

“It is always better to admire the best among our foes rather than the worst among our friends.”

“Country music was the most segregated kind of music in America, where even whites played jazz and even blacks sang in the opera. Something like country music was what lynch mobs must have enjoyed while stringing up their black victims. Country music was not necessarily lynching music, but no other music could be imagined as lynching’s accompaniment. Beethoven’s Ninth was the opus for Nazis, concentration camp commanders, and possibly President Truman as he contemplated atomizing Hiroshima, classical music the refined score for the high-minded extermination of brutish hordes. Country music was set to the more humble beat of the red-blooded, bloodthirsty American heartland.”

“I am merely noting that the creation of native prostitutes to service foreign privates is an inevitable outcome of a war of occupation, one of those nasty little side effects of defending freedom that all the wives, sisters, girlfriends, mothers, pastors, and politicians in Smallville, USA, pretend to ignore behind waxed and buffed walls of teeth as they welcome their soldiers home, ready to treat any unmentionable afflictions with the penicillin of American goodness.”

“…nothing is more precious than independence and freedom…”

1984 (George Orwell)

“Who controls the past, […] controls the future: who controls the present controls the past.”

“By lack of understanding they remained sane. They simply swallowed everything, and what they swallowed did them no harm, because it left no residue behind, just as a grain of corn will pass undigested through the body of a bird.”

“[…] she had possessed a kind of nobility, a kind of purity, simply because the standards that she obeyed were private ones.”

“The aim of the High is to remain where they are. The aim of the Middle is to change places with the High. The aim of the Low, when they have an aim – for it is an abiding characteristic of the Low that they are too much crushed by drudgery to be more than intermittently conscious of anything outside their daily lives – is to abolish all distinctions and create a society in which all men shall be equal.”

“The past is whatever the records and the memories agree upon.”

“Doublethink means the power of holding two contradictory beliefs in one’s mind simultaneously, and accepting both of them. The Party intellectual knows in which direction his memories must be altered; he therefore knows that he is playing trick with reality; but by the exercise of doublethink he also satisfies himself that reality is not violated.”

“If one is to rule, and to continue ruling, one must be able to dislocate the sense of reality.”

“Sanity is not statistical.”

“Being in a minority, even a minority of one, did not make you mad.”

“You were the dead; theirs was the future. But you could share in that future if you kept alive the mind as they kept alive the body, and passed on the secret doctrine that two plus two make four.”

“One does not establish a dictatorship to safeguard a revolution; one makes the revolution in order to establish the dictatorship.”

“[…] no one ever seizes power with the intention of relinquishing it.”

A Wild Sheep Chase (Haruki Murakami)

“Most people, they’re trying to escape from boredom, but I’m trying to get into the thick of boredom.”

“There’s that kind of money in the world. It aggravates you go have it, makes you miserable to spend it, and you hate yourself when it’s gone. And when you hate yourself, you feel like spending money. Except there’s no money left. And no hope.”

“I’d lost my hometown, lost my teens, lost my wife, in another three months I’d lose my twenties.”

Finance and the Good Society (Robert J. Shiller)

“[…] even though doves are to us the symbol of peace, if one cages two of them close together, putting them in an artificial environment where they cannot separate from each other, the stronger of the two will torture the other to death, without the arousal of any inhibition.”

“Modern society is the result of centuries of thinking about how to manage human aggressive tendencies and avoid situations in which people are confronted with others’ selfish behavior, resentments become intolerable, and aggression turns into open violence.”

“The key to achieving our goals and enhancing human values is to maintain and continually improve a democratic financial system that takes account of the diversity of human motives and drives. We need a system that allows people to make complex and incentivizing deals to further their goals, and one that allows an outlet for our aggressions and lust for power. It must be a system that redirects the inevitable human conflicts into a manageable arena, an arena that is both peaceful and constructive.”

Norwegian Wood (Haruki Murakami)

“If you only read the books that everyone else is reading, you can only think what everyone else is thinking.”

“On Sundays, I didn’t wind my spring.”

Midnight’s Children (Salman Rushdie)

“I am the sum total of everything that went before me, of all I have been seen done, of everything done-to-me. I am everyone everything whose being-in-the-world affected was affected by mine. I am anything that happens after I’m gone which would not have happened if I had not come.”

“Memory’s truth, because memory has its own special kind. It selects, eliminates, alters, exaggerates, minimizes, glorifies, and vilifies also; but in the end it creates its own reality, its heterogeneous but usually coherent version of events; and no sane human being ever trusts someone else’s version more than his own.”

“What can’t be cured must be endured.”

“I learned: the first lesson of my life: nobody can face the world with his eyes open all the time.”

“optimism is a disease”

“For every snake, there is a ladder; for every ladder, a snake”

“Most of what matters in our lives takes place in our absence […]”

“To pickle is to give immortality […]”

“One day, perhaps, the world may taste the pickles of history. They may be too strong for some palates, their smell may be overpowering, tears may rise to eyes; I hope nevertheless that it will be possible to say of them that they possess the authentic taste of truth . . . that they are, despite everything, acts of love.”

Hear the Wind Sing (Haruki Murakami)

“All things pass. None of us can manage to hold on to anything. In that way, we live our lives.”

Pinball, 1973 (Haruki Murakami) 

“All things should have both an entrance and an exit. That’s just the way it is.”

“The pinball machine and Hitler’s rise share one common trait. Greeted warily when they surfaced at that particular moment in history, their mythic aura stemmed more from the rapid pace of evolution than from any inherent quality. Evolution of the sort that moves forward on three wheels, namely Technology, Capital Investment, and Human Desire.”

“Each day was a carbon copy of the last. You needed a bookmark to tell one from another.”

“Just about anything looks better from a distance.”

The Vegetarian (Han Kang)

“As for women who were pretty, intelligent, strikingly sensual, the daughters of rich families—they would only have served to disrupt my carefully ordered existence.”

“She’s a good woman, he thought. The kind of woman whose goodness is oppressive.”

“There’s nothing wrong with keeping quiet, after all, hadn’t women traditionally been expected to be demure and restrained?”

“Quietly, she breathes in. The tree by the side of the road are blazing, green fire undulating like the rippling flanks of a massive animal. In-hye stares fiercely at the trees. As if waiting for an answer. As if protesting against something. The look in here eyes is dark and insistent.”

The Refugees (Viet Thanh Nguyen)

“We shared a passion for words, but I preferred the silence of writing while she loved to talk.”

“Then came stories of terror like the one about the reporter, the moral being that life, like the police, enjoys beating people now and again.”

“In a country where possessions counted for everything, we had no belongings except our stories.”

“He tried to forget what he’d discovered, how little other lives mattered to him when his own was at stake.”

“Are you going to be the kind of person who always pays the asking price?” my mother demanded. “Or the kind who fights to find out what something’s really worth?”

“Beautiful people can’t let on that they need ugly people. But without the ugly, the beautiful wouldn’t look half so good.”

“Arthur thought of what he had done, what he was doing, or what he should have done, but Louis thought only of what he would do.”

“I guess oil was to be found in every part of the world, just like anger and sorrow.”

“Can you love someone you don’t remember? Can you love someone you don’t know?”

“A woman can’t fall in love with a man for whom she feels sorry.”

Posted in Linh tinh | Leave a comment

Norwegian Wood

Năm 1965, The Beatles ra mắt bài hát Norwegian Wood. John Lennon viết bài này khi đã có vợ. Ông muốn viết cho những mối tình vụng trộm bên ngoài một cách bí ẩn để người vợ không biết.

Năm 1987, Haruki Murakami xuất bản cuốn sách cùng tên. Toru Watanabe, nhân vật chính trong truyện, đến thăm Naoko, cô gái mà cậu thương, tại một viện điều trị tâm lí ở một vùng núi hẻo lánh gần Kyoto. Naoko đang sống cùng Reiko, một giáo viên dạy nhạc. Đêm xuống, Toru và Naoko ngồi trong phòng tối nghe Reiko đàn guitar. Tuy nhiên, nếu Naoko muốn nghe Reiko chơi Norwegian Wood, cô phải trả Reiko 100 yên. Mỗi lần Naoko nghe bài này xong đều trở nên rất buồn, nên Reiko phải dùng cách này để hạn chế số lần Naoko nghe Norwegian Wood.

Chữ “Wood” trong “Norwegian Wood” không phải là “Rừng” như vẫn dịch ở VN, mà là “Gỗ”. “Norwegian Wood” ý chỉ loại gỗ thông rẻ tiền ốp tường đang thịnh hành thời đó. Có lẽ chàng trai trong bài hát, khi vào phòng cô gái đã thấy loại gỗ ốp tường này. Hai người trò chuyện say sưa và uống rượu. Sáng hôm sau, anh tỉnh dậy thì không thấy cô gái đâu nữa.

Nhưng dĩ nhiên thì “Rừng Na Uy” nghe hay hơn là “Gỗ Na Uy”.

I once had a girl
Or should I say
She once had me

She showed me her room
Isn’t it good
Norwegian wood

She asked me to stay
And she told me to sit anywhere
So I looked around
And I noticed there wasn’t a chair

I sat on a rug
Biding my time
Drinking her wine

We talked until two
And then she said
“It’s time for bed”

She told me she worked in the morning
And started to laugh
I told her I didn’t
And crawled off to sleep in the bath

And when I awoke
I was alone
This bird had flown

So I lit a fire
Isn’t it good
Norwegian wood

Posted in Linh tinh | Leave a comment

Chương trình cấp 3

Lâu nay mọi người hay bàn về cải cách giáo dục. Nhưng nếu chịu khó quan sát, mọi thứ thường xoay quanh (1) viết lại sách giáo khoa, (2) đổi mới phương pháp dạy và học, và (3) đổi mới quy chế thi/xét tuyển. Tuy nhiên, những thứ này đều chịu ảnh hưởng tự cơ cấu chương trình học. Nếu chỉ tập trung vào việc viết lại nội dung hay đổi mới phương pháp, quy chế, mà giữ nguyên cơ cấu chương trình, thì chẳng khác nào bình mới rượu cũ, chỉ chạm cái bề mặt.

Vì rảnh rỗi không có gì làm, hôm nay xin mạo muội đề ra ý tưởng đổi mới cơ cấu chương trình học, cụ thể là cho cấp 3.

Hiện trạng

Giáo dục Việt Nam mang tính tập trung (centralized) rất cao. Các trường ở các vùng miền khác nhau đều phải tuân theo một cơ cấu chương trình chuẩn rất chi li và cứng nhắc, từ việc học môn gì đến việc đánh giá như thế nào.

Hiện tại, học sinh cấp 3 ở Việt Nam học 13 môn cho cả ba năm học. Một năm học chia làm hai học kì. Cách đánh giá: dựa vào kiểm tra (miệng, giấy), và mỗi bài kiểm tra có nhân hệ số, về sau tính điểm trung bình.

Vấn đề

Học sinh học quá nhiều môn.

Hệ quả 1: Lượng kiến thức quá nhiều. Chưa kể môn nào cũng ráng nhồi vào cho đủ 3 năm kiến thức. Tuy lượng kiến thức nhiều, nhưng là vì nhiều do dàn trải. Hậu quả là nhiều nhưng không sâu.

Hệ quả 2: Nhiều học sinh (và cả nhà trường) đối phó với tình trạng này bằng việc học lệch, tức chỉ tập trung vào những môn thi đại học. Có thể nói mục đích ban đầu của bộ giáo dục (bắt học sinh học 13 môn để đào tạo ra con người toàn diện) đã thất bại.

Hệ quả 3: Nhiều kiến thức không cần thiết. Ví dụ: học sinh nào cũng phải học giải tích, dù không phải ai cũng theo học kỹ thuật hay khoa học ở đại học.

Giáo viên không thể sáng tạo và chủ động.

Sáng tạo và chủ động ở đây không nằm trong nghĩa “giảng dạy”, mà là sáng tạo và chủ động trong việc lên chương trình học và đánh giá học sinh. Ví dụ: ở Mỹ, giáo viên có thể lên nội dung cho một lớp riêng nằm ngoài chương trình chuẩn (ví dụ: ở trường Phillips Academy Andover, học sinh được học môn “Các nền kinh tế Mỹ Latin”), miễn là đảm bảo tính học thuật cao và giáo viên đủ trình độ. Giáo viên ở Việt Nam, ngoài việc phải dạy những môn bộ chỉ định sẵn, còn phải đánh giá học sinh theo cách bộ yêu cầu (kiểm tra miệng, 1 tiết, thi học kì, vân vân). Trong khi đó, ở các nước tiên tiến, giáo viên có thể chọn hình thức kiểm tra cho riêng mình (như viết 2 bài luận/học kì, hoặc kiểm tra giấy 5’ mỗi buổi học, vân vân).

Không có sự điều chỉnh chương trình cho phù hợp với từng vùng miền.

Ví dụ: Học sinh thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải học môn Công nghệ (phần Nông nghiệp) dù Sài Gòn không phải là vùng nông nghiệp.

Giải pháp

Cần làm lại cấu trúc chương trình sao cho:

  • Số lượng môn học bắt buộc ít lại (giảm tải chương trình)
  • Cấu trúc chương trình linh hoạt để học sinh được tự do lựa chọn môn học, tuỳ thuộc vào (1) sở thích, sở trường và (2) định hướng ngành nghề khi vào đại học.
  • Giáo viên và nhà trường có thêm quyền trong việc quyết định nội dung giảng dạy + đánh giá năng lực học sinh.

Đề xuất Cơ cấu Chương trình Mới

Các khái niệm cơ bản

  • Sự khác biệt giữa “ngành” và “bộ môn”. Toán, Vật lý, Hoá học, Ngữ văn… là “ngành”. “Xác suất – Thống kê”, “Đại số”, “Hình học”, “Giải tích”… là bộ môn.
  • Chương trình mỗi bộ môn sẽ được học trong 1 học kì hoặc 1 năm.
  • Tín chỉ. Một bộ môn học trong 1 năm tương đương 1 tín chỉ. Một bộ môn học trong 1 học kì tương đương 0.5 tín chỉ. Ngoại khoá không có tín chỉ.

Nội dung giảng dạy

  1. Học sinh sẽ học trung bình 2.5 tín chỉ/học kì (không tính các bộ môn ngoại khoá như Thể thao, Âm nhạc, Mỹ thuật). Tức mỗi học kì, học sinh sẽ chỉ học 5 bộ môn.
  2. Danh sách các “ngành” và “bộ môn” sẽ được dạy (trong ngoặc là số tín chỉ tương đương):
    • Toán
      • Xác suất – Thống kê (0.5)
      • Đại số (1)
      • Hình học (1)
      • Giải tích hàm một biến (1)
    • Vật lý
      • Cơ học (0.5)
      • Điện – Điện từ (0.5)
      • Lượng tử (0.5)
    • Hoá học
      • Vô cơ (1)
      • Hữu cơ (1)
    • Sinh học
      • Tế bào (0.5)
      • Tiến hoá (0.5)
      • Sinh thái và Môi trường (0.5)
    • Nghị luận (0.5)
    • Văn học
      • Việt Nam (1)
      • Thế giới (1)
    • Ngoại ngữ (tối đa 3 tín chỉ/ngôn ngữ)
      • Anh
      • Pháp
      • Nga
      • Trung
      • Hàn
      • Nhật
      • Đức
      • Tây Ban Nha
      • (Lưu ý: khi chọn một bộ môn ngoại ngữ, học sinh không bắt buộc phải học ngoại ngữ đó hết 3 năm)
    • Kinh tế
      • Vi mô (0.5)
      • Vĩ mô (0.5)
    • Lịch sử
      • Việt Nam (1)
      • Thế giới (1)
    • Địa lý
      • Tự nhiên (1)
      • Xã hội (1)
    • Khoa học máy tính
      • Nhập môn lập trình (0.5)
      • Cấu trúc dữ liệu (0.5)
    • Công dân
      • Hệ thống Nhà nước (0.5)
      • Nhập môn Luật pháp (0.5)
    • Giáo dục nghề
      • Kinh doanh: Quản lý (0.5)
      • Kinh doanh: Marketing (0.5)
      • Kinh doanh: Tài chính (0.5)
      • Kinh doanh: Kế toán (0.5)
      • Tin học: Đồ hoạ (0.5)
      • Tin học: Word (0.5)
      • Tin học: Excel (0.5)
      • Tin học: Powerpoint (0.5)
      • Tin học: Access (0.5)
      • Nhập môn Nông nghiệp (0.5)
    • Ngoại khoá: học sinh chọn 1 hoạt động trong ba loại hoạt động dưới đây mà trường có huấn luyện viên/giáo viên và cơ sở vật chất để đáp ứng.
      • Thể thao: bóng đá, bóng bàn…
      • Mỹ thuật: hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh…
      • Âm nhạc: đàn piano, đàn guitar…
      • Sân khấu
      • Các câu lạc bộ như Hùng biện, Mô phỏng Liên Hợp Quốc…
  1. Tuy nhiên, danh sách các “bộ môn” trên không đầy đủ. Nhà trường và giáo viên có thể thêm bộ môn “tự chọn” (elective).
    • Ví dụ: ngành “Lịch sử” có thể thêm vào hai bộ môn tự chọn là “Sử Việt Nam: Chiến tranh chống Mỹ” và “Sử Việt Nam: Trịnh-Nguyễn phân tranh”, học sâu hơn về sử Việt ở từng thời kì chẳng hạn. Hoặc ngành Toán với bộ môn “Đại số tuyến tính”.…
    • Việc trường có thể giảng dạy bộ môn tự chọn nào tuỳ thuộc vào đội ngũ giáo viên mà trường có. Bộ giáo dục không quản lí danh sách bộ môn tự chọn. Điều này để khuyến khích sự sáng tạo và chủ động của tập thể giáo viên nhà trường.
    • Nhà trường và giáo viên có bổn phận chuẩn bị chương trình học chi tiết (syllabus) cho bộ môn tự chọn, đính kèm học bạ để các trường đại học có thể đánh giá nội dung cũng như độ khó.
  2. Mỗi bộ môn sẽ có yêu cầu riêng. Ví dụ, bộ môn “Giải tích hàm một biến” sẽ yêu cầu học sinh đã học xong bộ môn “Đại số”.
  3. Đối với các bộ môn thuộc ngành Toán, Khoa học, và Xã hội học sinh có thể đăng kí lựa chọn “nâng cao”. Ví dụ, thay vì học bộ môn “Cơ học” thì học sinh có thể chọn “Cơ học (nâng cao)”. Chương trình nâng cao sẽ dạy sâu hơn chương trình thường. Chương trình nâng cao cũng sẽ có yêu cầu riêng. Ví dụ, “Cơ học (nâng cao)” sẽ yêu cầu học sinh đã hoặc đang học “Giải tích hàm một biến”; trong khi “Cơ học” sẽ không yêu cầu “Giải tích hàm một biến” mà chỉ cần “Đại số” chẳng hạn.
  4. Đối với các bộ môn thuộc ngành Ngoại ngữ, học sinh sẽ làm bài kiểm tra đầu vào và sẽ được xếp vào trình độ tương ứng. (Có tất cả 6 cấp độ, tương ứng với 6 học kì – tức 3 tín chỉ).
    • Học sinh nào làm bài kiểm tra đầu vào ít nhất cấp độ 5, thì sẽ được trao cho số tín chỉ tương ứng, và không cần học ngoại ngữ để tốt nghiệp.
    • Học sinh cũng có thể nộp TOEFL, IELTS hay TOEIC (cả 2 bài thi Nghe – Đọc và Nói – Viết) để được miễn thi đầu vào và nhận tín chỉ. Điểm phải đạt ở một mức độ nhất định (ví dụ: tối thiểu 80/120 cho TOEFL, và không kĩ năng nào dưới 20 điểm).
    • Tuy nhiên, học sinh có thể lưạ chọn một ngôn ngữ khác để học nếu muốn.
  5. Giáo viên tự chọn cách đánh giá học sinh (ví dụ như bao nhiêu bài kiểm tra/bài luận, mỗi bài chiếm bao nhiêu % điểm tổng kết). Điểm tổng kết sẽ là 100%. Học sinh nào có điểm tổng kết kém hơn 65% sẽ không được nhận tín chỉ (hay nửa tín chỉ, nếu bộ môn chỉ học 1 học kì) cho bộ môn đó.

Tốt nghiệp cấp 3

Để tốt nghiệp cấp 3, học sinh cần hoàn thành tối thiểu 15 tín chỉ, trong đó:

  • 10 tín chỉ bắt buộc:
    • Toán: 2 tín chỉ
    • Khoa học: 2 tín chỉ
      • Các ngành thoả mãn tiêu chí “Khoa học”: Vật lý, Sinh học, Hoá học, Khoa học máy tính
    • Xã hội: 2 tín chỉ
      • Các ngành thoả mãn tiêu chí “Xã hội”: Văn học, Lịch sử, Địa lý, Kinh tế
    • Nghị luận: 0.5 tín chỉ
    • Việt Nam: 1.5 tín chỉ
      • Các bộ môn thoả mãn tiêu chí “Việt Nam”: Sử Việt Nam, Văn học Việt Nam, Hệ thống Nhà nước, Nhập môn Pháp luật
    • Ngoại ngữ: 2 tín chỉ (cùng một ngoại ngữ)
    • (Lưu ý: một bộ môn không thể thoả mãn cùng lúc 2 yêu cầu tín chỉ bắt buộc. Ví dụ: bộ môn Văn học Việt Nam không thể dùng để vừa thoả mãn yêu cầu “Xã hội”, vừa thoả mãn yêu cầu “Việt Nam”.)
  • Học sinh tự chọn 5 tín chỉ còn lại.
  • Tham gia ngoại khoá (Thể thao, Âm nhạc, Mỹ thuật, Sân khấu, các Câu lạc bộ…) ít nhất 2 năm.

Xét tuyển vào đại học

  • Một năm sẽ có nhiều kì thi đại học. Mỗi kì thi, thí sinh sẽ chọn ra nhiều bộ môn để thi. Ví dụ: thí sinh có thể chọn thi “Xác suất – Thống kê”, “Cơ học”, “Kinh tế Vi mô”… trong cùng một kì thi.
  • Trường đại học sẽ yêu cầu thí sinh thi những bộ môn nhất định để xét đơn vào đại học.
    • Ví dụ, ngành Y sẽ yêu cầu các bộ môn Xác suất – Thống kê, Hoá Vô cơ, Hoá Hữu cơ, Sinh học Tế bào; ngành Kỹ thuật cơ sẽ yêu cầu Đại số, Giải tích Hàm một biến, Cơ học và Điện – Điện từ…
  • Điểm thi sẽ được tính theo “bell curve” như SAT, tức là thí sinh điểm cao hay thấp sẽ phụ thuộc vào các thí sinh khác làm bài có tốt hay không.
  • Thí sinh đạt điểm cao có thể được miễn tín chỉ bộ môn đó ở trường đại học, tuỳ vào quy định trường. Ví dụ, trường đại học có thể quy định thí sinh nào có điểm thi đại học bộ môn Cơ học nằm trong top 10% cao điểm nhất sẽ được miễn học môn Cơ học ở đại học.
    • Điều này giúp học sinh có thể đạt được tín chỉ đại học trước khi vào đại học, rút ngắn thời gian học tập.

Dĩ nhiên là mình chỉ viết để tự sướng tinh thần là chính. Còn lâu bộ giáo dục mới để ý và nghiêm túc xem xét.

Posted in Giáo dục | 1 Comment