Chuyện đàn bà

1. Năm 1937, tập đoàn Bendix cho ra mắt máy giặt tự động đầu tiên. Ngày 7 tháng 12 năm 1945, Trân Châu cảng bị tấn công. Hoa Kỳ chính thức tham chiến cùng phe Đồng Minh. Nhiều hoạt động sản xuất máy móc bị đình chỉ, cả nước tập trung cao độ sản xuất phục vụ chiến tranh. Tuy nhiên, nhiều công ty vẫn được chính phủ cho phép tiếp tục nghiên cứu máy giặt. Các lãnh đạo tập đoàn và kỹ sư cho rằng đây là một ngành mới đầy tiềm năng nên tận dụng khoảng thời gian chiến tranh để phát triển loại máy này. Năm 1947, sau khi chiến tranh kết thúc được 2 năm, ông lớn General Electric nhảy vào cuộc chơi với một loại máy giặt tự động cửa trên. Vào thập niên 50, máy giặt bắt đầu trở nên phổ biến ở châu Âu. Từ thập niên 90, máy giặt bắt đầu được tích hợp các vi mạch điều khiển, cho phép máy đáp ứng được nhiều nhu cầu phức tạp hơn của người dùng.

2. Năm 1934, Simon Kutznets, một nhà kinh tế học và quan chức cấp cao của Cục nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (National Bureau of Economic Research – NBER), tạo ra khái niệm GDP (Gross Domestic Product – Tổng Sản phẩm Quốc nội) cho một báo cáo nộp Quốc hội Mỹ. GDP được định nghĩa là tổng giá trị thị trường của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ cuối được sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Từ “cuối” có nghĩa các hàng hoá/dịch vụ trung gian sẽ không được tính. Ví dụ: giá trị thị trường của động cơ xe không được tính vào GDP; giá trị thị trường của chiếc xe thì sẽ được tính vào. Điều này có nghĩa là giá trị hàng hoá/dịch vụ cuối đã bao gồm giá trị của hàng hoá/dịch vụ trung gian.

3. Theo nghiên cứu của Claudia Goldin, một nhà kinh tế học tại Harvard và NBER, vai trò kinh tế của người phụ nữ phát triển qua 4 giai đoạn. Trong đó, đáng chú ý nhất là giai đoạn 3 (1950-1970). Cụ thể, phụ nữ đã kết hôn độ tuổi 35-44 đi làm tăng từ 25% đến 46% trong vòng 20 năm. Nếu để ý, đây là khoản thời gian máy giặt trở nên phổ biến. Trong một bài nghiên cứu, ba nhà kinh tế học Jeremy Greenwood, Ananth Seshadri và Mehmet Yorukoglu kết luận những loại máy gia dụng như máy giặt đã “giải phóng” phụ nữ khỏi việc nhà, cho họ nhiều thời gian hơn để làm những việc khác. Cụ thể, trước khi có máy giặt, phụ nữ tốn gần 4 tiếng để giặt 17kg quần áo. Với máy giặt, họ chỉ cần 41 phút. Ngoài máy giặt, các phát minh mới như bếp ga, bàn ủi, máy hút bụi… cũng góp phần vào việc “giải phóng” phụ nữ một cách đáng kể, tạo điều kiện cho họ đi làm thay vì chỉ ở nhà lo nội trợ.

4. Kutznets cảnh báo rằng GDP không phải là thước đo tốt cho “well-being” (tạm dịch: phúc lợi/hạnh phúc) của một quốc gia. GDP chỉ đo lường tổng giá trị thị trường, tức mọi hoạt động không được đưa lên thị trường và gắn một cái giá thì không được tính vào GDP. Điều này đặc biệt ảnh hưởng đến phụ nữ: một phần lớn các hoạt động nội trợ do phụ nữ đảm nhiệm, và những hoạt động này không được định giá nên không được tính vào GDP. Trước 1950, khi máy giặt chưa đại trà, một phần lớn thời gian và công sức được dành cho việc giặt giũ. Lượng thời gian và công sức này không được tính vào GDP vì nó không phải là hoạt động định giá bởi thị trường. Tuy nhiên, không thể nói cái gì không có giá trị thị trường là vô nghĩa: nếu không giặt giũ, liệu đời sống (và công việc) thường ngày có đựơc diễn ra trơn tru? Gary Becker, người đạt giải Nobel kinh tế 1992, lập luận rằng vì tập trung vào nội trợ, phụ nữ sẽ có ít kinh nghiệm làm việc hơn đàn ông, và vì thế được trả lương ít hơn và hay bị bỏ qua các cơ hội thăng chức. Kể từ khi máy giặt trở nên phổ thông, số lượng phụ nữ đi làm tăng cao, và khoảng thời gian này cũng là khoảng thời gian tăng trưởng kinh tế mạnh ở các nước châu Âu và Hoa Kỳ.

5. Hiện tại, các công việc nội trợ không còn chiếm nhiều thời gian như xưa, nhưng ở những nước đang phát triển như Việt Nam, không phải hộ nào cũng có điều kiện để mua sắm máy gia dụng. Chưa kể, có những việc nội trợ mà máy móc không giúp được, như chăm sóc và nuôi dạy con. Vào giờ tan tầm trường mẫu giáo hoặc cấp 1, không khó để thấy phần đông phụ huynh đón con là những bà mẹ. Những hoạt động của những bà mẹ như lau dọn nhà cửa, giặt giũ, nấu nướng, chăm sóc con em… đều có những hoạt động thị trường tương đương (thuê người giúp việc, bảo mẫu, đi ăn nhà hàng…) nhưng lại không được tính vào GDP và không được tính là “làm ra tiền”. Hãy thử trả lời một câu hỏi nhỏ: nếu công việc nội trợ được tính với giá cả thị trường, thì lương người vợ nội trợ sẽ là bao nhiêu? Corey Herbert, một người dùng trên trang hỏi đáp Quora, ước tính anh sẽ phải trả vợ anh $231,875/năm. Để dễ so sánh, lương tổng thống Mỹ là $400,000/năm, lương trung bình của 1 giáo sư đại học là $74,000/năm, và thu nhập bình quân đầu người của Mỹ là $56,084/năm. (Xem ước tính của Herbert tại đây.)

6. Tham khảo:

  • Druccillia K.Barker và Susan F. Feiner (2004): ‘Liberating Economics: Feminist Perspectives on Families, Work, and Globalization’ (Nhà xuất bản Đại học Michigan – Ann Arbor)
  • Claudia Goldin (2006): ‘The quiet revolution that transformed women’s employment, education, and family’ (American Economic Review)
  • Jeremy Greenwood, Ananth Seshadri và Mehmet Yorukoglu (2005): ‘Engines of Liberation’ (Review of Economic Studies)
  • Gary Becker (1985): ‘Human capital, effort, and the sexual division of labor’ (Journal of Labor Economics)
Advertisements
This entry was posted in Xã hội. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s