Chương trình cấp 3

Lâu nay mọi người hay bàn về cải cách giáo dục. Nhưng nếu chịu khó quan sát, mọi thứ thường xoay quanh (1) viết lại sách giáo khoa, (2) đổi mới phương pháp dạy và học, và (3) đổi mới quy chế thi/xét tuyển. Tuy nhiên, những thứ này đều chịu ảnh hưởng tự cơ cấu chương trình học. Nếu chỉ tập trung vào việc viết lại nội dung hay đổi mới phương pháp, quy chế, mà giữ nguyên cơ cấu chương trình, thì chẳng khác nào bình mới rượu cũ, chỉ chạm cái bề mặt.

Vì rảnh rỗi không có gì làm, hôm nay xin mạo muội đề ra ý tưởng đổi mới cơ cấu chương trình học, cụ thể là cho cấp 3.

Hiện trạng

Giáo dục Việt Nam mang tính tập trung (centralized) rất cao. Các trường ở các vùng miền khác nhau đều phải tuân theo một cơ cấu chương trình chuẩn rất chi li và cứng nhắc, từ việc học môn gì đến việc đánh giá như thế nào.

Hiện tại, học sinh cấp 3 ở Việt Nam học 13 môn cho cả ba năm học. Một năm học chia làm hai học kì. Cách đánh giá: dựa vào kiểm tra (miệng, giấy), và mỗi bài kiểm tra có nhân hệ số, về sau tính điểm trung bình.

Vấn đề

Học sinh học quá nhiều môn.

Hệ quả 1: Lượng kiến thức quá nhiều. Chưa kể môn nào cũng ráng nhồi vào cho đủ 3 năm kiến thức. Tuy lượng kiến thức nhiều, nhưng là vì nhiều do dàn trải. Hậu quả là nhiều nhưng không sâu.

Hệ quả 2: Nhiều học sinh (và cả nhà trường) đối phó với tình trạng này bằng việc học lệch, tức chỉ tập trung vào những môn thi đại học. Có thể nói mục đích ban đầu của bộ giáo dục (bắt học sinh học 13 môn để đào tạo ra con người toàn diện) đã thất bại.

Hệ quả 3: Nhiều kiến thức không cần thiết. Ví dụ: học sinh nào cũng phải học giải tích, dù không phải ai cũng theo học kỹ thuật hay khoa học ở đại học.

Giáo viên không thể sáng tạo và chủ động.

Sáng tạo và chủ động ở đây không nằm trong nghĩa “giảng dạy”, mà là sáng tạo và chủ động trong việc lên chương trình học và đánh giá học sinh. Ví dụ: ở Mỹ, giáo viên có thể lên nội dung cho một lớp riêng nằm ngoài chương trình chuẩn (ví dụ: ở trường Phillips Academy Andover, học sinh được học môn “Các nền kinh tế Mỹ Latin”), miễn là đảm bảo tính học thuật cao và giáo viên đủ trình độ. Giáo viên ở Việt Nam, ngoài việc phải dạy những môn bộ chỉ định sẵn, còn phải đánh giá học sinh theo cách bộ yêu cầu (kiểm tra miệng, 1 tiết, thi học kì, vân vân). Trong khi đó, ở các nước tiên tiến, giáo viên có thể chọn hình thức kiểm tra cho riêng mình (như viết 2 bài luận/học kì, hoặc kiểm tra giấy 5’ mỗi buổi học, vân vân).

Không có sự điều chỉnh chương trình cho phù hợp với từng vùng miền.

Ví dụ: Học sinh thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải học môn Công nghệ (phần Nông nghiệp) dù Sài Gòn không phải là vùng nông nghiệp.

Giải pháp

Cần làm lại cấu trúc chương trình sao cho:

  • Số lượng môn học bắt buộc ít lại (giảm tải chương trình)
  • Cấu trúc chương trình linh hoạt để học sinh được tự do lựa chọn môn học, tuỳ thuộc vào (1) sở thích, sở trường và (2) định hướng ngành nghề khi vào đại học.
  • Giáo viên và nhà trường có thêm quyền trong việc quyết định nội dung giảng dạy + đánh giá năng lực học sinh.

Đề xuất Cơ cấu Chương trình Mới

Các khái niệm cơ bản

  • Sự khác biệt giữa “ngành” và “bộ môn”. Toán, Vật lý, Hoá học, Ngữ văn… là “ngành”. “Xác suất – Thống kê”, “Đại số”, “Hình học”, “Giải tích”… là bộ môn.
  • Chương trình mỗi bộ môn sẽ được học trong 1 học kì hoặc 1 năm.
  • Tín chỉ. Một bộ môn học trong 1 năm tương đương 1 tín chỉ. Một bộ môn học trong 1 học kì tương đương 0.5 tín chỉ. Ngoại khoá không có tín chỉ.

Nội dung giảng dạy

  1. Học sinh sẽ học trung bình 2.5 tín chỉ/học kì (không tính các bộ môn ngoại khoá như Thể thao, Âm nhạc, Mỹ thuật). Tức mỗi học kì, học sinh sẽ chỉ học 5 bộ môn.
  2. Danh sách các “ngành” và “bộ môn” sẽ được dạy (trong ngoặc là số tín chỉ tương đương):
    • Toán
      • Xác suất – Thống kê (0.5)
      • Đại số (1)
      • Hình học (1)
      • Giải tích hàm một biến (1)
    • Vật lý
      • Cơ học (0.5)
      • Điện – Điện từ (0.5)
      • Lượng tử (0.5)
    • Hoá học
      • Vô cơ (1)
      • Hữu cơ (1)
    • Sinh học
      • Tế bào (0.5)
      • Tiến hoá (0.5)
      • Sinh thái và Môi trường (0.5)
    • Nghị luận (0.5)
    • Văn học
      • Việt Nam (1)
      • Thế giới (1)
    • Ngoại ngữ (tối đa 3 tín chỉ/ngôn ngữ)
      • Anh
      • Pháp
      • Nga
      • Trung
      • Hàn
      • Nhật
      • Đức
      • Tây Ban Nha
      • (Lưu ý: khi chọn một bộ môn ngoại ngữ, học sinh không bắt buộc phải học ngoại ngữ đó hết 3 năm)
    • Kinh tế
      • Vi mô (0.5)
      • Vĩ mô (0.5)
    • Lịch sử
      • Việt Nam (1)
      • Thế giới (1)
    • Địa lý
      • Tự nhiên (1)
      • Xã hội (1)
    • Khoa học máy tính
      • Nhập môn lập trình (0.5)
      • Cấu trúc dữ liệu (0.5)
    • Công dân
      • Hệ thống Nhà nước (0.5)
      • Nhập môn Luật pháp (0.5)
    • Giáo dục nghề
      • Kinh doanh: Quản lý (0.5)
      • Kinh doanh: Marketing (0.5)
      • Kinh doanh: Tài chính (0.5)
      • Kinh doanh: Kế toán (0.5)
      • Tin học: Đồ hoạ (0.5)
      • Tin học: Word (0.5)
      • Tin học: Excel (0.5)
      • Tin học: Powerpoint (0.5)
      • Tin học: Access (0.5)
      • Nhập môn Nông nghiệp (0.5)
    • Ngoại khoá: học sinh chọn 1 hoạt động trong ba loại hoạt động dưới đây mà trường có huấn luyện viên/giáo viên và cơ sở vật chất để đáp ứng.
      • Thể thao: bóng đá, bóng bàn…
      • Mỹ thuật: hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh…
      • Âm nhạc: đàn piano, đàn guitar…
      • Sân khấu
      • Các câu lạc bộ như Hùng biện, Mô phỏng Liên Hợp Quốc…
  1. Tuy nhiên, danh sách các “bộ môn” trên không đầy đủ. Nhà trường và giáo viên có thể thêm bộ môn “tự chọn” (elective).
    • Ví dụ: ngành “Lịch sử” có thể thêm vào hai bộ môn tự chọn là “Sử Việt Nam: Chiến tranh chống Mỹ” và “Sử Việt Nam: Trịnh-Nguyễn phân tranh”, học sâu hơn về sử Việt ở từng thời kì chẳng hạn. Hoặc ngành Toán với bộ môn “Đại số tuyến tính”.…
    • Việc trường có thể giảng dạy bộ môn tự chọn nào tuỳ thuộc vào đội ngũ giáo viên mà trường có. Bộ giáo dục không quản lí danh sách bộ môn tự chọn. Điều này để khuyến khích sự sáng tạo và chủ động của tập thể giáo viên nhà trường.
    • Nhà trường và giáo viên có bổn phận chuẩn bị chương trình học chi tiết (syllabus) cho bộ môn tự chọn, đính kèm học bạ để các trường đại học có thể đánh giá nội dung cũng như độ khó.
  2. Mỗi bộ môn sẽ có yêu cầu riêng. Ví dụ, bộ môn “Giải tích hàm một biến” sẽ yêu cầu học sinh đã học xong bộ môn “Đại số”.
  3. Đối với các bộ môn thuộc ngành Toán, Khoa học, và Xã hội học sinh có thể đăng kí lựa chọn “nâng cao”. Ví dụ, thay vì học bộ môn “Cơ học” thì học sinh có thể chọn “Cơ học (nâng cao)”. Chương trình nâng cao sẽ dạy sâu hơn chương trình thường. Chương trình nâng cao cũng sẽ có yêu cầu riêng. Ví dụ, “Cơ học (nâng cao)” sẽ yêu cầu học sinh đã hoặc đang học “Giải tích hàm một biến”; trong khi “Cơ học” sẽ không yêu cầu “Giải tích hàm một biến” mà chỉ cần “Đại số” chẳng hạn.
  4. Đối với các bộ môn thuộc ngành Ngoại ngữ, học sinh sẽ làm bài kiểm tra đầu vào và sẽ được xếp vào trình độ tương ứng. (Có tất cả 6 cấp độ, tương ứng với 6 học kì – tức 3 tín chỉ).
    • Học sinh nào làm bài kiểm tra đầu vào ít nhất cấp độ 5, thì sẽ được trao cho số tín chỉ tương ứng, và không cần học ngoại ngữ để tốt nghiệp.
    • Học sinh cũng có thể nộp TOEFL, IELTS hay TOEIC (cả 2 bài thi Nghe – Đọc và Nói – Viết) để được miễn thi đầu vào và nhận tín chỉ. Điểm phải đạt ở một mức độ nhất định (ví dụ: tối thiểu 80/120 cho TOEFL, và không kĩ năng nào dưới 20 điểm).
    • Tuy nhiên, học sinh có thể lưạ chọn một ngôn ngữ khác để học nếu muốn.
  5. Giáo viên tự chọn cách đánh giá học sinh (ví dụ như bao nhiêu bài kiểm tra/bài luận, mỗi bài chiếm bao nhiêu % điểm tổng kết). Điểm tổng kết sẽ là 100%. Học sinh nào có điểm tổng kết kém hơn 65% sẽ không được nhận tín chỉ (hay nửa tín chỉ, nếu bộ môn chỉ học 1 học kì) cho bộ môn đó.

Tốt nghiệp cấp 3

Để tốt nghiệp cấp 3, học sinh cần hoàn thành tối thiểu 15 tín chỉ, trong đó:

  • 10 tín chỉ bắt buộc:
    • Toán: 2 tín chỉ
    • Khoa học: 2 tín chỉ
      • Các ngành thoả mãn tiêu chí “Khoa học”: Vật lý, Sinh học, Hoá học, Khoa học máy tính
    • Xã hội: 2 tín chỉ
      • Các ngành thoả mãn tiêu chí “Xã hội”: Văn học, Lịch sử, Địa lý, Kinh tế
    • Nghị luận: 0.5 tín chỉ
    • Việt Nam: 1.5 tín chỉ
      • Các bộ môn thoả mãn tiêu chí “Việt Nam”: Sử Việt Nam, Văn học Việt Nam, Hệ thống Nhà nước, Nhập môn Pháp luật
    • Ngoại ngữ: 2 tín chỉ (cùng một ngoại ngữ)
    • (Lưu ý: một bộ môn không thể thoả mãn cùng lúc 2 yêu cầu tín chỉ bắt buộc. Ví dụ: bộ môn Văn học Việt Nam không thể dùng để vừa thoả mãn yêu cầu “Xã hội”, vừa thoả mãn yêu cầu “Việt Nam”.)
  • Học sinh tự chọn 5 tín chỉ còn lại.
  • Tham gia ngoại khoá (Thể thao, Âm nhạc, Mỹ thuật, Sân khấu, các Câu lạc bộ…) ít nhất 2 năm.

Xét tuyển vào đại học

  • Một năm sẽ có nhiều kì thi đại học. Mỗi kì thi, thí sinh sẽ chọn ra nhiều bộ môn để thi. Ví dụ: thí sinh có thể chọn thi “Xác suất – Thống kê”, “Cơ học”, “Kinh tế Vi mô”… trong cùng một kì thi.
  • Trường đại học sẽ yêu cầu thí sinh thi những bộ môn nhất định để xét đơn vào đại học.
    • Ví dụ, ngành Y sẽ yêu cầu các bộ môn Xác suất – Thống kê, Hoá Vô cơ, Hoá Hữu cơ, Sinh học Tế bào; ngành Kỹ thuật cơ sẽ yêu cầu Đại số, Giải tích Hàm một biến, Cơ học và Điện – Điện từ…
  • Điểm thi sẽ được tính theo “bell curve” như SAT, tức là thí sinh điểm cao hay thấp sẽ phụ thuộc vào các thí sinh khác làm bài có tốt hay không.
  • Thí sinh đạt điểm cao có thể được miễn tín chỉ bộ môn đó ở trường đại học, tuỳ vào quy định trường. Ví dụ, trường đại học có thể quy định thí sinh nào có điểm thi đại học bộ môn Cơ học nằm trong top 10% cao điểm nhất sẽ được miễn học môn Cơ học ở đại học.
    • Điều này giúp học sinh có thể đạt được tín chỉ đại học trước khi vào đại học, rút ngắn thời gian học tập.

Dĩ nhiên là mình chỉ viết để tự sướng tinh thần là chính. Còn lâu bộ giáo dục mới để ý và nghiêm túc xem xét.

Advertisements
This entry was posted in Giáo dục. Bookmark the permalink.

One Response to Chương trình cấp 3

  1. Khang Vu says:

    Kiểu này sao *đọ* các môn khoa học lại các nước khu vực :))

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s