2017

SÁCH

Phi hư cấu (nonfiction)

The Penguin History of Modern Vietnam (Christopher Goscha): ai là người Việt Nam thì cần phải đọc cuốn này.

Hư cấu (fiction)

Twilight of the Eastern Gods (Ismail Kadare) và A Moveable Feast (Ernest Hemingway): một người Albania và một người Mỹ viết về khoảng thời gian họ bắt đầu trở thành nhà văn thực thụ ở những thành phố hoa lệ xa lạ (Moscow và Paris). Dĩ nhiên không thiếu những chuyện tình đan xen.

Frog (Mo Yan): một bi hài kịch về kế hoạch hóa gia đình ở Trung Quốc. Không hiểu sao đọc lại thấy rất thân thuộc như thể nó nói về Việt Nam.

Midnight’s Children (Salman Rushdie): một câu chuyện ma thuật về những đứa trẻ sinh lúc nửa đêm ngày độc lập được kể rất thật, rất giống đất nước nơi cuốn tiểu thuyết lấy làm bối cảnh (Ấn Độ).

Men Without Women, Hard-Boiled Wonderland and the End of the World, và Dance Dance Dance (Haruki Murakami): Murakami vẫn vậy, luôn viết về li dị, bia rượu, nhạc jazz, tình dục, cô đơn, và những sự kiện kì dị. Vậy mà không có câu chuyện nào giống câu chuyện nào, cái nào cũng cuốn hút và đầy ám ảnh.

NHẠC

Shape of You (Ed Sheeran)

Mr. Brightside (The Killers)

Take Me Home, Country Roads (John Denver)

NHẠC KỊCH

Natasha, Pierre & The Great Comet of 1812 

PHIM

Léon: The Professional (Luc Besson)

La La Land (Damien Chazelle)

Baby Driver (Edgar Wright)

ĂN UỐNG

The Alternative Tuck Shop (Oxford, UK)

Kisharang (Budapest, Hungary)

U Babci Maliny (Cracow, Poland)

Café Louvre (Prague, Czech Republic)

The Workshop (Sài Gòn, Việt Nam)

 

Advertisements
Posted in Linh tinh | Leave a comment

Cưới vợ (2)

Cưới vợ (1)

Trong Attic Greek (một phương ngữ Hy Lạp cổ đại), từ ἄγω có nghĩa là “lead”, “keep” và “bring”. “Lead” ở đây không phải là lãnh đạo, mà rất nghĩa đen, gần nghĩa với “keep” và “bring”, tức là cầm/mang/lấy theo bên người. ἄγω τὸ ὃπλον: tôi cầm theo/lấy dụng cụ (ὃπλον nghĩa là dụng cụ).

Chú ý rằng từ ἄγω cần hai phía để rõ nghĩa. Phía đầu tiên là chủ ngữ, là phía sẽ thực hiện hành động “cầm/mang/lấy”. Phía còn lại là vị ngữ. Vị ngữ có thể là đồ vật, nhưng cũng có thể là người. Khi vị ngữ là người, cụ thể là một người phụ nữ (và chủ ngữ là đàn ông), thì ἄγω mang nghĩa là “cưới” (marry).

Điều này nói lên chút ít về xã hội Hy Lạp xưa. Phụ nữ không được đối xử bình đẳng với đàn ông (cái này là vấn đề muôn thuở rồi). Đàn ông thi đấu, ai thắng được phần thưởng là rước nàng về làm vợ. Các gia tộc gả cưới con gái coi như món quà tăng tình hữu nghị. Có lẽ việc coi phụ nữ như món đồ, thích thì cầm mang đi, hay cực đoan hơn thì cướp giật, cũng phản ánh chút hiện thực bấy giờ.

Việt Nam cũng dùng cụm từ vật thể hóa phụ nữ như vậy là “lấy vợ”. Nhưng chúng ta hơn Hy Lạp cổ đại ở chỗ chúng ta cũng có “lấy chồng”, và không có democracy.

 

Posted in Linh tinh | Leave a comment

Gun Rights vs. Nuke Rights

477 Days. 521 Mass Shootings. Zero Actions from Congress.

I find it weird that a lot of Americans (usually conservatives/Republicans) think the best way to stay safe is to allow people to have guns. One theory behind is “the good guy with a gun” – in case of a shooting, for example, people with guns can protect themselves. Behind the Second Amendment, which protects the citizens’ right to bear arms, is an outdated fear: the government becomes authoritarian, and thus citizens must be equipped with arms to defend themselves.

Let’s consider an analogy between individuals and states (countries). Analogies are far from perfect, but they sometimes shed light on how absurd things can be. 

(A) I believe every state has the right to defend itself from the aggression of another state. For example, the UK had the right to bomb German cities during World War II. This sounds perfectly plausible; in case a country becomes authoritarian (not in the sense how it deals with domestic matters, but in how it wants other countries to follow its orders) and attacks another country, the victim is justified in fighting back.

(B) 9 countries have nuclear weapons (aka nukes): US, Russia, UK, France, China, India, Pakistan, North Korea and Israel. Because nukes are weapons of mass destruction (WMD), the only kind of weapons that can be used to deter enemies with such WMD is… nukes. Again, this sounds plausible to me. If my neighbor who has repeatedly manifested intent to harm me, keeps guns in his house and often flouts his weapons to make me comply with his orders, then it is unreasonable that you allow him to have guns while permits me to have only baseball bats or knives.

From (A) and (B) it is logical that every country should be allowed to have nukes. Maybe you don’t need a lot of nukes to wipe out a whole country, but you should have at least a few nukes to say to potential aggressors that, “hey y’all, you can beat me to death but I can at least cripple you.” The position that every country should have nukes is very weird, and you say the world would be very unsafe! I don’t disagree. I think no country should have nukes. But if you think so, you must also think that in a society where everyone has the right to carry guns, that society is indeed very unsafe. But oh well, the opponents to gun control in the US do not seem to think this way. I find it amusing many conservatives/Republicans hate the idea that Iran and North Korea can have nukes while still receive money from the National Rifle Association.

Posted in Mỹ | Leave a comment

Đại học (2)

Phần 1 có thể được xem ở đây.

What Higher Education Should Be For?

1. Kinh tế học tân cổ điển (neoclassical economics), trường phái kinh tế mainstream hiện tại, cho rằng con người duy lý (rational), luôn muốn nhiều hơn là ít, vì vậy luôn chọn phương án hiệu quả nhất (most efficient) để mang lại giá trị cao nhất (maximize value). Ngoài ra, kinh tế học tân cổ điển cũng cho rằng con người duy lý có đầy đủ thông tin (perfect information) khi ra quyết định. Với hai giả thiết này, các nhà kinh tế xây dựng các mô hình toán học để dự đoán hành vi và trạng thái của người tiêu dùng (consumer) hoặc công ty (firm), nếu đó là kinh tế vi mô (microeconomics), và nền kinh tế (economy), nếu đó là kinh tế vĩ mô (macroeconomics). Kinh tế học trong khoa học xã hội như là vật lý trong khoa học tự nhiên, nơi toán nghiễm nhiên trở thành ngôn ngữ không thể thiếu.

2. Tuy nhiên, trong thực tế, con người không phải lúc nào cũng duy lý (cảm xúc ảnh hưởng rất nhiều), và thông tin chả lúc nào là đầy đủ (imperfect information). Ngoài ra, việc cho rằng tồn tại mối quan hệ định lượng (quantitative relationship) tồn tại giữa các cá thể trong xã hội là hơi vô lí. Ví dụ, khá vô lí khi cho rằng tôi cưới vợ thì hạnh phúc giảm 1000 đơn vị, anh bỏ vợ thì hạnh phúc tăng 2000 đơn vị. Việc toán hoá các mối quan hệ xã hội, một thứ rất phổ biến trong kinh tế học, vì thế, đôi khi khá kì dị. Kinh tế học trừu tượng hoá các mối quan hệ xã hội và thay bằng toán, vô tình bỏ quên đi những yếu tố quan trọng khác như văn hoá, lịch sử… Ví dụ, khái niệm tín dụng qua hàng ngàn năm thay đổi rất nhiều, tuỳ thuộc vào điều kiện xã hội – chính trị và công nghệ của nền văn minh. Tín dụng bây giờ có thể là tiền ảo, là bitcoin, nhưng ngày xưa nó có thể là ngũ cốc, là vỏ sò. Các mô hình kinh tế bỏ qua các chi tiết lịch sử – xã hội – chính trị của các khái niệm này, và thay vào đó là những con số trừu tượng, cho rằng tín dụng thời kì nào cũng như nhau. Các quyết định kinh tế đa phần không hoàn toàn dựa trên các tính toán duy lý, mà phần nhiều chịu ảnh hưởng của chính trị, văn hoá, xã hội.

3. Vì vậy, kinh tế học, nếu học sâu, sẽ khá hẹp. Cần những góc nhìn từ các ngành khác như tâm lý học, chính trị học, xã hội học, nhân học, và đặc biệt là lịch sử. Dĩ nhiên, những kẻ học kinh tế thì rất giỏi giải toán, và luôn sẵn tay gạt qua các ngành khoa học xã hội khác. Vì thế, nếu chỉ học kinh tế, các nhà kinh tế học tương lai sẽ mãi không thể nào giải quyết được các vấn đề mà môn kinh tế gặp phải. Sự vĩ đại của giáo dục khai phóng (liberal arts) nằm ở chỗ nó cho người học một hi vọng thoát khỏi sự hạn hẹp về mặt tri thức này. Giáo sư Schwartz tóm gọn khá hay: “It was an axiom of the upheavals of the 1960’s and 1970’s that “you can’t take down the master’s house with the master’s tools.” What this means to me in the context of higher education is that you can’t discover the deep limitations of economics by only studying economics.”

4. Và đây là đoạn đắt giá nhất bài: “Liberal arts training, done well, appreciates and exposes students to the many different forms that good thinking takes, that truth takes, and that evidence takes. It nurtures a kind of wise appreciation of the complexity of the world and it’s problems.” Nói tóm lại, thế giới này quá phức tạp để ta chỉ học một thứ. Ví dụ, vấn đề kém phát triển và đói nghèo không thể nào được giải quyết với kinh tế học, mà còn cần tri thức và kinh nghiệm từ các ngành khác.

Posted in Giáo dục | Leave a comment

Đại học (1)

Why Picking a Major Is a Bad Idea for College Kids

1. Có vài người bạn học ở Minerva và Olin, hai trường có mô hình giáo dục khá khác lạ so với các trường truyền thống. Mình chưa nói chuyện nhiều với các bạn về cách học ở hai trường này, nhưng có một ấn tượng là Minerva và Olin tập trung vào tư duy hơn là nội dung. Ví dụ, mượn câu chuyện của ông bạn Khang Vũ học Olin, một trường kỹ thuật rất xịn ở Massachusetts. Ông này học lớp nọ có bài tập đi phác hoạ con bổ củi, tìm hiểu xem nó nhảy như thế nào, và làm một cái mô hình con bổ củi. Mình không học Olin nhưng mình nghĩ lớp này dùng để luyện tư duy cho các kỹ sư tương lai.

2. Giả sử thế kỉ XVIII có mô hình trường đại học như hiện tại, và cũng có môn kinh tế, thì môn đó dạy gì? Tất nhiên không dạy mô hình phát triển Solow (Solow-Swan model), mà sẽ dạy những thứ ‘state-of-the-art’ thời đó như physiocracy (không biết dịch thế nào). Physiocracy là một lý thuyết được phát triển bởi các nhà kinh tế Pháp. Lý thuyết này cho rằng mọi giá trị kinh tế (economic value) đều đến từ đất đai, và để kinh tế phát triển thì cần tập trung vào nông nghiệp. Francois Quesnay, một Physiocrat nổi tiếng, xuất bản tờ Tableau économique vào 1759 như là diễn đàn để bàn luật Physiocracy. Cuối thế kỉ XVIII – giữa thế kỉ XIX, tức vài chục năm sau, cách mạng công nghiệp bắt đầu, Physiocracy bắt đầu lỗi thời. Ngày nay, tức hơn 250 năm sau nhìn lại, Physiocracy rất nực cười. Thậm chí vào đầu thế kỉ XX, tức 150 năm sau, Physiocracy cũng rất ngô nghê.

3. Câu chuyện về Physiocracy nói lên điều gì? Kiến thức dễ bị lỗi thời. Nhất là trong thế kỉ này. Năm 2000, người dân VN bắt đầu có điện thoại đập đá Motorola và Nokia, oai như cóc, hi-tech vãi nhái. Nghe gọi bất cứ nơi đâu. Chả ai nghĩ được chỉ 17 năm sau, người dân ngồi quẹt quẹt vài nhát (trên iPhone) là có xe ôm Grab hay Uber tới nhà đưa đi nhậu tiêu thụ 3.8 tỉ lít bia. Nói chung công nghệ phát triển theo cấp số nhân. Như vậy, có thể nói kiến thức, nhất là khoa học tự nhiên, cũng phát triển theo tốc độ tương tự.

4. Công nghệ thay đổi xã hội, vì vậy nên kiến thức từ khoa học xã hội cũng phát triển tương tự theo. Lấy một ví dụ kinh tế nữa. Xã hội loài người ban đầu không dùng ngay tiền giấy, mà dùng vỏ sò, lương thực, kim loại quý (như vàng, bạc)… Trải qua một thời gian dài thì tiền giấy mới nổi lên. Giờ thì tiền chủ yếu là ảo, là số trong hệ thống ngân hàng, chứ không phải giấy. Khi chị B venmo anh A thì ngân hàng không có lấy tiền giấy từ két chị B sang két anh A, mà chỉ đơn giản là thay đổi số tiền của 2 người trong hệ thống. Tiền về bản chất là tín nhiệm (có thể đọc The Ascent of Money của Niall Ferguson để biết thêm chi tiết), nhưng qua thời gian nó thay đổi rất nhiều hình thái. Vì vậy, không thể nói tiền kim loại thời trung cổ có hành vi và tác động giống tiền ảo như hiện nay được. (Chưa kể hệ thống kinh tế-xã hội thời trung cổ khác xa với bây giờ.) Tạo nhiều tiền thì gây ra lạm phát, nhưng chi tiết về hiệu ứng của lạm phát thì không thể giống nhau.

5. (2), (3), và (4) ý nói rằng kiến thức sớm muộn gì cũng sẽ lỗi thời, bất kể kiến thức tự nhiên hay xã hội. Đi học đại học chủ yếu là học kiến thức. Nhưng với tốc độ như hiện nay thì không ai biết được những gì mình học trong 3-4 năm đại học có giúp ích gì được cho mình trong vài thập kỉ tới hay không, kể cả về mặt việc làm lẫn thế giới quan. Ví dụ, nhân viên kế toán khá dễ bị thay thế trong nhiều năm tới bởi máy tính (97.6%, tham khảo tại đây). Có thể viễn cảnh này quá bi đát; nhiều việc máy tính không làm được. Nhưng máy tính bây giờ đang học lái xe và nấu ăn, thậm chí tạo ra ngôn ngữ riêng mình thì ai biết được điều gì sẽ xảy ra?

6. Đại học có thể ứng phó lâu dài nếu thay đổi trọng tâm, không đặt trọng tâm vào dạy kiến thức nữa, mà hướng sang tư duy. (Nghe khác cliché nhỉ. Nhưng đợi tí.) Davidson, tác giả bài viết trong đường dẫn đầu bài, cho rằng đại học nên dạy cách tổng hợp (synthesize) kiến thức. Tổng hợp là một khả năng tư duy, chứ không phải một chủ đề kiến thức như kinh tế vĩ mô hay kỹ thuật cơ khí. Nếu tập trung vào tư duy thì dù kiến thức có thay đổi, ta vẫn có thể học kiến thức mới và tổng hợp nó lại ra thứ gì đó có ích được. Nghĩa là tư duy thì không (hoặc khó) bị lỗi thời như kiến thức. Các trường đại học hiện nay đều có một hệ thống chuyên ngành (major). Hệ thống này vô tình làm trường đại học tập trung vào dạy kiến thức chứ không dạy tư duy. Tư duy là thứ gì đó người học tự nghiệm ra, là một “side-effect” hơn là thứ được chủ động trui rèn. Ở Mỹ tình trạng này đỡ hơn vì có giáo dục khai phóng (liberal arts); sinh viên phải học nhiều lớp ngoài lớp chuyên ngành (lớp “core”) vì thế có thể học cách tư duy tổng hợp kiến thức từ nhiều ngành. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đa số sinh viên học cho xong các lớp “core” này để rồi tập trung vào “major” của mình.

7. Vấn đề dạy tư duy như thế nào thì hiện không rõ, đó là một vấn đề mà các trường đại học phải tự tìm ra trong tương lai. Minerva và Olin chưa cắt bỏ hoàn toàn hệ thống “major” được, nhưng đang bước đầu thử nghiệm các phương pháp giảng dạy tư duy.

Posted in Giáo dục | Leave a comment

Dịch thuật là nghệ thuật

Càng đọc văn học nước ngoài càng thấy tiếng Việt rất giàu đẹp, và dịch thuật là một việc sáng tạo (creative work) không kém gì viết văn.

Lấy ví dụ một trích đoạn trong tác phẩm frog của nhà văn Mo Yan (bản gốc tiếng Trung, dịch sang tiếng Anh). Bối cảnh là nhân vật chính ngồi nghe thằng bạn chí cốt kể chuyện yêu đơn phương và viết thư tình cho cô y tá ở trạm y tế xã.

What do you want to tell me?
You have to promise not to tell any one.
Okay, I promise. If I breath a word of what Wang Gan tells me, let me fall into the river and drown.
Today I… I finally dropped a letter to her in the postbox…
[…]
To who? The way you’re acting, it sounds like you wrote to chairman Mao.
Why would you say that? What does Chairman Mao have to do with me? No, I wrote to her. Her.

Một ví dụ tiếng Việt giàu đẹp: có rất nhiều đại từ chỉ bản thân (“I”), như “tôi”, “tao”, “mình”, “em”, “tớ”… tuỳ thuộc vào bối cảnh và cảm xúc. Vì đây là hai thằng bạn chí cốt nên dịch tôi sẽ rất dở. Ví dụ như dịch 3 câu cuối.
“Tại sao bạn nói như vậy? Mao Chủ Tịch thì có gì với mình?”
Nghe rất bựa. (Chưa kể dịch “have to do with me” thành “có gì với mình” cũng bựa không kém.)
Nhưng nếu sáng tạo hơn một chút thì có thể dịch thành:
“Sao mày nói vậy? Mao Chủ tịch thì liên quan gì đến tao?”
Vì đây là hai thằng bạn thân nên đại từ “mày” và “tao” sẽ hay hơn.

Dịch tiếp câu cuối.

No, I wrote to her. Her.

“Không, tao viết cho cô ấy. Cô ấy.”
Dịch “her” thành “cô ấy” không có gì sai. Nhưng như đã nói, dịch thuật cũng sáng tạo không kém viết văn, và tiếng Việt rất giàu đẹp, nên có thể:
“Không, tao viết cho nàng! Nàng!”
Từ “nàng” làm cho người đọc cảm nhận được độ si tình của nhân vật hơn là “cô ấy” rất nhiều.

Ngoài ra thì việc có kiến thức bối cảnh (và vốn từ liên quan) của người đọc cũng quan trọng không kém. frog của Mo Yan kể về vùng quê Trung Quốc thời dân số tăng nhanh.

Family planning is national policy.

“Kế hoạch gia đình là chính sách quốc gia.”
“Kế hoạch gia đình” và “chính sách quốc gia” là 2 cụm từ nghe khá xa lạ. Nhưng:
“Kế hoạch hoá gia đình là quốc sách.”
Người đọc (là người VN) vốn quen với 2 cụm từ “kế hoạch hoá gia đình” và “quốc sách” hơn, nên chỉ với chút xíu điều chỉnh cho phù hợi với bối cảnh. Trong tiểu thuyết còn có nhiều cụm từ khác như “masses”, “Party member” và “Party secretary”. Nếu dịch thành “đám đông”, “thành viên Đảng”, và “thư kí Đảng” thì nghe rất xa lạ. Nhưng nếu dùng “quần chúng nhân dân”, “Đảng viên” và “Bí thư” thì ai cũng hiểu, vì người VN vốn rất quen thuộc với các cụm từ này.

Nói chung là tiếng Việt rất giàu đẹp, và dịch thuật là một nghệ thuật.

Posted in Văn chương | Leave a comment

A Moveable Feast

Hemingway và Murakami đều dùng từ ngữ và cấu trúc câu đơn giản, dễ hiểu, nhưng đọc thì rất khác nhau. Dĩ nhiên cả hai đều viết về tình yêu. (Thực ra thì, ai chả viết về tình yêu; đến cả Tố Hữu còn viết về tình yêu cơ mà – tình yêu bác Hồ.)

Ba năm sau khi Hemingway tự vẫn, cuốn hồi kí A Moveable Feast được xuất bản (1964), nói về những năm tháng “vô danh tiểu tốt” của ông ở Paris (1921-1926), la cà ở quán cafe ngồi viết báo viết truyện ngắn kiếm tiền, và đến trường đua ngựa thử vận may. Đọc cuốn hồi kí thì thấy thời gian này ông khá yêu vợ lúc bấy giờ là Elizabeth Hadley Richardson. Sau khi đi công chuyện ở New York, ông quay trở về Paris và định bắt tàu đi Áo ngay lập tức, nhưng:
“But the girl I was in love with was in Paris then, and I did not take the first train, or the second or the third.
“When I saw my wife again standing by the tracks as the train came in by the piled logs at the station, I wished I died before I ever loved anyone but her.
[…]
“I loved her and I loved no one else and we had a lovely magic time when we were alone.”

Nghe rất mùi, nhưng tháng 1/1927 Hemingway và Hadley ly dị. Hadley là người vợ đầu tiên trong số 4 người vợ của Hemingway. A Moveable Feast kết thúc một cách đơn giản nhưng đẹp đẽ:
“But this is how Paris was in the early days when we were very poor and very happy.”

Posted in Văn chương | Leave a comment