Dịch thuật là nghệ thuật

Càng đọc văn học nước ngoài càng thấy tiếng Việt rất giàu đẹp, và dịch thuật là một việc sáng tạo (creative work) không kém gì viết văn.

Lấy ví dụ một trích đoạn trong tác phẩm frog của nhà văn Mo Yan (bản gốc tiếng Trung, dịch sang tiếng Anh). Bối cảnh là nhân vật chính ngồi nghe thằng bạn chí cốt kể chuyện yêu đơn phương và viết thư tình cho cô y tá ở trạm y tế xã.

What do you want to tell me?
You have to promise not to tell any one.
Okay, I promise. If I breath a word of what Wang Gan tells me, let me fall into the river and drown.
Today I… I finally dropped a letter to her in the postbox…
[…]
To who? The way you’re acting, it sounds like you wrote to chairman Mao.
Why would you say that? What does Chairman Mao have to do with me? No, I wrote to her. Her.

Một ví dụ tiếng Việt giàu đẹp: có rất nhiều đại từ chỉ bản thân (“I”), như “tôi”, “tao”, “mình”, “em”, “tớ”… tuỳ thuộc vào bối cảnh và cảm xúc. Vì đây là hai thằng bạn chí cốt nên dịch tôi sẽ rất dở. Ví dụ như dịch 3 câu cuối.
“Tại sao bạn nói như vậy? Mao Chủ Tịch thì có gì với mình?”
Nghe rất bựa. (Chưa kể dịch “have to do with me” thành “có gì với mình” cũng bựa không kém.)
Nhưng nếu sáng tạo hơn một chút thì có thể dịch thành:
“Sao mày nói vậy? Mao Chủ tịch thì liên quan gì đến tao?”
Vì đây là hai thằng bạn thân nên đại từ “mày” và “tao” sẽ hay hơn.

Dịch tiếp câu cuối.

No, I wrote to her. Her.

“Không, tao viết cho cô ấy. Cô ấy.”
Dịch “her” thành “cô ấy” không có gì sai. Nhưng như đã nói, dịch thuật cũng sáng tạo không kém viết văn, và tiếng Việt rất giàu đẹp, nên có thể:
“Không, tao viết cho nàng! Nàng!”
Từ “nàng” làm cho người đọc cảm nhận được độ si tình của nhân vật hơn là “cô ấy” rất nhiều.

Ngoài ra thì việc có kiến thức bối cảnh (và vốn từ liên quan) của người đọc cũng quan trọng không kém. frog của Mo Yan kể về vùng quê Trung Quốc thời dân số tăng nhanh.

Family planning is national policy.

“Kế hoạch gia đình là chính sách quốc gia.”
“Kế hoạch gia đình” và “chính sách quốc gia” là 2 cụm từ nghe khá xa lạ. Nhưng:
“Kế hoạch hoá gia đình là quốc sách.”
Người đọc (là người VN) vốn quen với 2 cụm từ “kế hoạch hoá gia đình” và “quốc sách” hơn, nên chỉ với chút xíu điều chỉnh cho phù hợi với bối cảnh. Trong tiểu thuyết còn có nhiều cụm từ khác như “masses”, “Party member” và “Party secretary”. Nếu dịch thành “đám đông”, “thành viên Đảng”, và “thư kí Đảng” thì nghe rất xa lạ. Nhưng nếu dùng “quần chúng nhân dân”, “Đảng viên” và “Bí thư” thì ai cũng hiểu, vì người VN vốn rất quen thuộc với các cụm từ này.

Nói chung là tiếng Việt rất giàu đẹp, và dịch thuật là một nghệ thuật.

Posted in Văn chương | Leave a comment

A Moveable Feast

Hemingway và Murakami đều dùng từ ngữ và cấu trúc câu đơn giản, dễ hiểu, nhưng đọc thì rất khác nhau. Dĩ nhiên cả hai đều viết về tình yêu. (Thực ra thì, ai chả viết về tình yêu; đến cả Tố Hữu còn viết về tình yêu cơ mà – tình yêu bác Hồ.)

Ba năm sau khi Hemingway tự vẫn, cuốn hồi kí A Moveable Feast được xuất bản (1964), nói về những năm tháng “vô danh tiểu tốt” của ông ở Paris (1921-1926), la cà ở quán cafe ngồi viết báo viết truyện ngắn kiếm tiền, và đến trường đua ngựa thử vận may. Đọc cuốn hồi kí thì thấy thời gian này ông khá yêu vợ lúc bấy giờ là Elizabeth Hadley Richardson. Sau khi đi công chuyện ở New York, ông quay trở về Paris và định bắt tàu đi Áo ngay lập tức, nhưng:
“But the girl I was in love with was in Paris then, and I did not take the first train, or the second or the third.
“When I saw my wife again standing by the tracks as the train came in by the piled logs at the station, I wished I died before I ever loved anyone but her.
[…]
“I loved her and I loved no one else and we had a lovely magic time when we were alone.”

Nghe rất mùi, nhưng tháng 1/1927 Hemingway và Hadley ly dị. Hadley là người vợ đầu tiên trong số 4 người vợ của Hemingway. A Moveable Feast kết thúc một cách đơn giản nhưng đẹp đẽ:
“But this is how Paris was in the early days when we were very poor and very happy.”

Posted in Văn chương | Leave a comment

Tây Du Ký

Một vài quan sát từ chuyến du lịch bụi châu Âu từ ngày 9-24/3.

Ljubljana
1. Chỉ ba chữ cái c, s, z có thể có dấu mũ ngược trên đầu. Vài từ vựng. Ulica: đường (street); gostilna: nhà hàng; và hvala: cảm ơn.

2. Lúc người đi bộ chờ đèn đỏ thì có tiếng tick tick chậm rãi, đèn xanh thì tiếng đó dồn dập. Đèn đỏ vẫn có âm thanh để tạo cảm giác yên tâm, còn đèn xanh dốn dập để hối thúc người đi.

3. Những khu được quy hoạch để xe hơi có thể vào rất xấu.

4. Con sông Ljubljanica từng rất nhộn nhịp, là con đường để quân La Mã xuống vùng Balkan.

5. Bảo tàng quốc gia không ấn tượng, tạo cảm giác Slovenia là 1 phần nhỏ của sử La Mã và Trung Cổ. Thời La Mã còn có các đế chế khác như nhà Hán, Sasanian… Chợt nhớ TQ hay dùng quá khứ các triều đại hào hùng để tuyên truyền cho giấc mơ trỗi dậy và bá quyền. Liệu lịch sử có thể được dùng để củng cố chủ nghĩa dân tộc, làm công cụ cai trị?

6. Ở hostel khá được, nhưng cẩn thận người ngủ ngáy.

Praha
1. Namesti: quảng trường (square); dekuji: cảm ơn; most: cầu (bridge). Prosim là ‘please’ nhưng thường là câu nói sau khi người kia ‘dekuji’, nên nó giống như ‘không có chi’ (you’re welcome).

2. Khu người Việt (Little Hanoi) ở cộng hòa Séc cũng ‘sketchy’ không kém khu người Việt ở Mỹ. Người Việt có vẻ giỏi bán buôn nhưng không thuộc tầng lớp trung lưu trở lên. Như cái tên ngụ ý, ở đây ai cũng nói tiếng Bắc, vài người nghe giống Thanh Hóa. ‘Vietnamese diaspora’ là một lĩnh vực đáng nghiên cứu.

3. Praha đẹp nhưng quá ‘touristy’. Dọc 2 bên đường khu trung tâm toàn các hàng quán tiếng Anh, làm mình nghĩ tới Bùi Viện. Chả người Việt nào ăn cơm ở Bùi Viện cả. Khu công viên Petrin ít du khách hơn, đáng đi vì ‘view’ đẹp. Ljubljana tuy nhỏ nhắn, không ấn tượng như Praha, nhưng dễ chịu (pleasant), yên bình và không ‘overwhelming’ như Praha.

4. Tàu đi từ Praha đến Kraków không quá sạch đẹp nhưng đầy đủ: kem + bàn chải đánh răng, dép, bồn rửa mặt, chỗ móc áo khoác và để hành lí. Ngủ 1 đêm là tới nơi, không mệt mà còn rất sảng khoái (vì hôm trước đi nhiều quá mệt chăng?). Hồi trước đi từ Ljunljana sang Praha bằng bus, tuy không nằm nhưng ngồi cũng khá thoải mái, có dừng lại để khách đi vệ sinh. Du lịch châu Âu nên đi tàu/bus, nhưng chú ý địa lí (nước nào cạnh nước nào) để di chuyển tiết kiệm thời gian và rẻ.

Kraków
1. Tiếng Ba Lan giống tiếng Slovenia và tiếng Séc: trong tiếng Ba Lan, đường là ulica, còn cảm ơn là dziekuje. Sw là viết tắt của thánh, như St (saint) trong tiếng Anh.

2. Chọn bạn đồng hành khi đi du lịch. Có người thích tham quan, nhưng xem nhẹ ăn uống, và vì thế tiết kiệm tiền ăn. Có người muốn trải nghiệm ẩm thực địa phương hơn nên xem tiền ăn như tiền tham quan. Cần hiểu ‘preferences’ và thói quen sống hằng ngày của nhau để hiểu cho nhau.

3. Ngành quản trị nhà hàng-khách sạn trong tiếng Anh gọi là ‘hospitality management’. Khi một người tới một nơi lạ để du lịch, họ sẽ thích sự thân thiện/hiếu khách của người bản địa. Du khách tương tác nhiều với khách sạn và nhà hàng, vậy nên những người làm ngành này cần phải tỏ ra hiếu khách nhất (hospitable).

4. Ở Kraków, trên vé in số người. Ví dụ nhóm 3 người thì chỉ có 1 tấm vé, nhưng trên tấm vé có in số 3, thay vì 3 tấm vé như ở VN. Điều này giúp tiết kiệm giấy.

Budapest
1. Năm 2013, chính quyền Hungary dựng một đài tưởng niệm nạn nhân Đức Quốc xã ở quảng trường tự do. Đài tưởng niệm bao gồm đại bàng và thiên thần Gabriel. Tuy nhiên, nạn nhân và gia đình và những người đồng cảm phản đối đài tưởng niệm này vì nó sai lịch sử: Hungary lúc bấy giờ là đồng minh của Đức Quốc xã, và chính phủ tiếp tay cho nạn diệt chủng Do Thái và dân Di-găng. Họ mang hành trang của những người bị ép vào trại tập trung ra sắp xếp trước đài tưởng niệm để phản đối. Tự do ngôn luận không cần thiết phải dùng đến ngôn từ.

2. Nhiều người ăn xin ở Budapest (và các thành phố trung Âu khác) trông không giống dân bản xứ; da họ tối màu hơn. Họ là dân Di-găng. Dân Di-găng được cho là di cư từ bắc Ấn Độ lên từ thế kỉ XII. Tuy đã ở được châu Âu một khoảng thời gian khá dài, dân Di-găng vẫn là thành phần nghèo khó và bị xã hội ghét bỏ nhất. Nạn nhân của Đức Quốc xã không chỉ có người Do Thái mà còn có người Di-găng, và trong lịch sử họ đã là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc và nhiều tội ác có hệ thống khác (như Tiệp Khắc có chương trình triệt sản phụ nữ Di-găng, và những cuộc diệt chủng ở nhiều nơi). Khác với cộng đồng Do Thái, cộng đồng Di-găng không có các nhóm vận động hành lang mạnh.

3. Budapest phát triển quanh sông Danube. Tương tự, Ljubljana: Ljubljanica, Praha: Vltaca, Kraków: Vistula. Các thành phố lớn đều phát triển quanh một con sông. Một giả thiết là nền văn minh và sự định cư có nguồn gốc từ nông nghiệp: cần nước để tưới tiêu. Đây là lĩnh vực của môn địa lý. Môn địa lý con người (human geography) nói riêng và địa lý nói chung rất thú vị, nhưng lâu nay không được giáo dục VN quan tâm đúng mức.

Paris
1. Một lượng lớn người ăn xin và chuyên đi lừa du khách ở Paris là người Di-găng. Một chiêu trò phổ biến: một đám thiếu niên/phụ nữ trẻ sẽ kêu bạn ghi tên vào một danh sách ủng hộ người khuyết tật. Nếu bạn ghi tên vào sẽ bị đòi tiền “quyên góp”, hoặc sẽ bị móc túi trong lúc ghi tên. Dân Pháp nói riêng và dân châu Âu nói chung rất ghét người Di-găng vì họ hay gây ra rắc rối. Tuy nhiên, họ cũng vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân. Châu Âu có một lịch sử dài phân biệt và diệt chủng người Di-găng.

2. Bảo tàng Louvre chứa rất nhiều cổ vật, thậm chí cả mấy cột đá, từ các nước khác như Ai Cập. Để rồi khi người Ai Cập vào xem đồ vật từ nền văn minh của đất họ thì phải mua vé. Và họ phải nghe sự giảng giải của người Pháp về nền văn minh Ai Cập cổ đại. Rất đúng chất “thực dân”. (Làm nhớ tới sự khác biệt giữa Japanese studies và Japanology: cái đầu tiên nghiên cứu xã hội Nhật dưới cái nhìn từ bên ngoài, cái thứ hai từ bên trong. Nhưng Egyptology khả năng cao không mang nghĩa thứ hai.)

3. Đi bảo tàng cần đi nhiều lần, và cần kiến thức nền trước. Nếu không thì cũng chỉ như cưỡi ngựa xem hoa. Số lượng hiện vật quá nhiều, thông tin đính kèm cũng vậy (chưa kể rất phân mảnh) nên người tham quan sẽ khó hình dung được tổng thể.

Posted in Linh tinh | Leave a comment

Chuyện đàn bà

1. Năm 1937, tập đoàn Bendix cho ra mắt máy giặt tự động đầu tiên. Ngày 7 tháng 12 năm 1945, Trân Châu cảng bị tấn công. Hoa Kỳ chính thức tham chiến cùng phe Đồng Minh. Nhiều hoạt động sản xuất máy móc bị đình chỉ, cả nước tập trung cao độ sản xuất phục vụ chiến tranh. Tuy nhiên, nhiều công ty vẫn được chính phủ cho phép tiếp tục nghiên cứu máy giặt. Các lãnh đạo tập đoàn và kỹ sư cho rằng đây là một ngành mới đầy tiềm năng nên tận dụng khoảng thời gian chiến tranh để phát triển loại máy này. Năm 1947, sau khi chiến tranh kết thúc được 2 năm, ông lớn General Electric nhảy vào cuộc chơi với một loại máy giặt tự động cửa trên. Vào thập niên 50, máy giặt bắt đầu trở nên phổ biến ở châu Âu. Từ thập niên 90, máy giặt bắt đầu được tích hợp các vi mạch điều khiển, cho phép máy đáp ứng được nhiều nhu cầu phức tạp hơn của người dùng.

2. Năm 1934, Simon Kutznets, một nhà kinh tế học và quan chức cấp cao của Cục nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (National Bureau of Economic Research – NBER), tạo ra khái niệm GDP (Gross Domestic Product – Tổng Sản phẩm Quốc nội) cho một báo cáo nộp Quốc hội Mỹ. GDP được định nghĩa là tổng giá trị thị trường của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ cuối được sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Từ “cuối” có nghĩa các hàng hoá/dịch vụ trung gian sẽ không được tính. Ví dụ: giá trị thị trường của động cơ xe không được tính vào GDP; giá trị thị trường của chiếc xe thì sẽ được tính vào. Điều này có nghĩa là giá trị hàng hoá/dịch vụ cuối đã bao gồm giá trị của hàng hoá/dịch vụ trung gian.

3. Theo nghiên cứu của Claudia Goldin, một nhà kinh tế học tại Harvard và NBER, vai trò kinh tế của người phụ nữ phát triển qua 4 giai đoạn. Trong đó, đáng chú ý nhất là giai đoạn 3 (1950-1970). Cụ thể, phụ nữ đã kết hôn độ tuổi 35-44 đi làm tăng từ 25% đến 46% trong vòng 20 năm. Nếu để ý, đây là khoản thời gian máy giặt trở nên phổ biến. Trong một bài nghiên cứu, ba nhà kinh tế học Jeremy Greenwood, Ananth Seshadri và Mehmet Yorukoglu kết luận những loại máy gia dụng như máy giặt đã “giải phóng” phụ nữ khỏi việc nhà, cho họ nhiều thời gian hơn để làm những việc khác. Cụ thể, trước khi có máy giặt, phụ nữ tốn gần 4 tiếng để giặt 17kg quần áo. Với máy giặt, họ chỉ cần 41 phút. Ngoài máy giặt, các phát minh mới như bếp ga, bàn ủi, máy hút bụi… cũng góp phần vào việc “giải phóng” phụ nữ một cách đáng kể, tạo điều kiện cho họ đi làm thay vì chỉ ở nhà lo nội trợ.

4. Kutznets cảnh báo rằng GDP không phải là thước đo tốt cho “well-being” (tạm dịch: phúc lợi/hạnh phúc) của một quốc gia. GDP chỉ đo lường tổng giá trị thị trường, tức mọi hoạt động không được đưa lên thị trường và gắn một cái giá thì không được tính vào GDP. Điều này đặc biệt ảnh hưởng đến phụ nữ: một phần lớn các hoạt động nội trợ do phụ nữ đảm nhiệm, và những hoạt động này không được định giá nên không được tính vào GDP. Trước 1950, khi máy giặt chưa đại trà, một phần lớn thời gian và công sức được dành cho việc giặt giũ. Lượng thời gian và công sức này không được tính vào GDP vì nó không phải là hoạt động định giá bởi thị trường. Tuy nhiên, không thể nói cái gì không có giá trị thị trường là vô nghĩa: nếu không giặt giũ, liệu đời sống (và công việc) thường ngày có đựơc diễn ra trơn tru? Gary Becker, người đạt giải Nobel kinh tế 1992, lập luận rằng vì tập trung vào nội trợ, phụ nữ sẽ có ít kinh nghiệm làm việc hơn đàn ông, và vì thế được trả lương ít hơn và hay bị bỏ qua các cơ hội thăng chức. Kể từ khi máy giặt trở nên phổ thông, số lượng phụ nữ đi làm tăng cao, và khoảng thời gian này cũng là khoảng thời gian tăng trưởng kinh tế mạnh ở các nước châu Âu và Hoa Kỳ.

5. Hiện tại, các công việc nội trợ không còn chiếm nhiều thời gian như xưa, nhưng ở những nước đang phát triển như Việt Nam, không phải hộ nào cũng có điều kiện để mua sắm máy gia dụng. Chưa kể, có những việc nội trợ mà máy móc không giúp được, như chăm sóc và nuôi dạy con. Vào giờ tan tầm trường mẫu giáo hoặc cấp 1, không khó để thấy phần đông phụ huynh đón con là những bà mẹ. Những hoạt động của những bà mẹ như lau dọn nhà cửa, giặt giũ, nấu nướng, chăm sóc con em… đều có những hoạt động thị trường tương đương (thuê người giúp việc, bảo mẫu, đi ăn nhà hàng…) nhưng lại không được tính vào GDP và không được tính là “làm ra tiền”. Hãy thử trả lời một câu hỏi nhỏ: nếu công việc nội trợ được tính với giá cả thị trường, thì lương người vợ nội trợ sẽ là bao nhiêu? Corey Herbert, một người dùng trên trang hỏi đáp Quora, ước tính anh sẽ phải trả vợ anh $231,875/năm. Để dễ so sánh, lương tổng thống Mỹ là $400,000/năm, lương trung bình của 1 giáo sư đại học là $74,000/năm, và thu nhập bình quân đầu người của Mỹ là $56,084/năm. (Xem ước tính của Herbert tại đây.)

6. Tham khảo:

  • Druccillia K.Barker và Susan F. Feiner (2004): ‘Liberating Economics: Feminist Perspectives on Families, Work, and Globalization’ (Nhà xuất bản Đại học Michigan – Ann Arbor)
  • Claudia Goldin (2006): ‘The quiet revolution that transformed women’s employment, education, and family’ (American Economic Review)
  • Jeremy Greenwood, Ananth Seshadri và Mehmet Yorukoglu (2005): ‘Engines of Liberation’ (Review of Economic Studies)
  • Gary Becker (1985): ‘Human capital, effort, and the sexual division of labor’ (Journal of Labor Economics)
Posted in Xã hội | Leave a comment

Chính phủ kiến tạo

1. Trong Rừng Na Uy của Haruki Murakami có một nhân vật khá thú vị, tên là Nagasawa. Nagasawa đẹp trai, nói được nhiều ngoại ngữ, con nhà giàu, và học ở đại học Tokyo danh giá. Trong ký túc xá ai cũng nể sợ Nagasawa, kể cả ông quản lí. Thế mà Nagasawa lại chơi thân với Toru Watanabe, nhân vật chính, một người được mô tả là không có gì đặc biệt – từ nhan sắc đến khả năng đến hoàn cảnh gia đình. Hai người thành bạn qua một sự kiện hơi lạ. Watanabe đọc “The Great Gatsby” ở căn tin. Nagasawa đi ngang qua, thấy tựa đề cuốn sách và bắt chuyện. Anh cho rằng Watanabe khác biệt: không phải ai cũng đọc “The Great Gatsby”, và ai đọc cuốn sách này là loại có đẳng cấp. Nagasawa chỉ đọc những tác phẩm của những tác giả đã chết được vài chục năm, vì tác phẩm vĩ đại phải được thử thách bởi thời gian. Sau khi tốt nghiệp, Nagasawa không thừa kế gia sản kếch sù của gia đình mà vào Bộ Ngoại giao Nhật Bản làm việc.

2. Noryangjin là một bộ phim Hàn Quốc nói về Mo Hee-joon, một thanh niên hơn 30 tuổi đầu vẫn chưa có một việc làm ổn định. (Nhân vật Mo Hee-joon do Bong Tae-gyu thủ vai, đây là diễn viên xấu trai hiếm hoi trong làng siêu sao Hàn nhưng đóng rất hay.) Hee-joon đã trượt kì thi công chức rất nhiều lần, lần gần nhất thiếu có 1 điểm. Buồn chán, anh ra cầu định tự vẫn, và vô tình gặp Yoo-ha, một cô gái xinh xắn từng là một gymnast. Yoo-ha cũng tính ra cầu để kết liễu cuộc đời, nhưng thấy Hee-joon bựa quá thế là cô bỏ ý định tự vẫn luôn. Dĩ nhiên là từ đây duyên hai người gắn với nhau, và vô số điều lãng mạn hài hước xảy ra. Cuối phim, Hee-joon thi đậu công chức.

3. Ở Brazil có một câu chuyện cười thế này. “Hai con sư tử xổng chuồng. Một con núp vào rừng, lâu lâu có người đi ngang qua thì nhảy ra ăn thịt. Con còn lại núp ở một toà nhà nọ. Sau một thời gian thì cả 2 con đều bị bắt, trả về sở thú. Con trong rừng thì ốm o, còn con trong toà nhà thì béo tốt. Con ốm đói hỏi, mày núp ở đâu mà ngày càng béo tốt thế này? Tao núp ở toà nhà của một bộ nọ trong chính phủ. Mỗi ngày tao ăn thịt một thằng công chức. Tụi nó không nhận ra sự khác biệt gì, thế là hằng ngày tao chén đều đặn một thằng. Hôm nọ tao chén thằng pha cà phê, cả cơ quan không có cà phê uống, thế là bị phát hiện.” Bài học: bộ máy nhà nước cồng kềnh kém hiệu quả, có mất nhiều công chức cũng chả tạo ra khác biệt gì.

4. Nhiều nhà lãnh đạo, các nhà kinh tế học, các nhà hoạch định chính sách, và cộng đồng phát triển quốc tế (international development) rất hứng thú với sự vươn lên của các nước Đông Á (Nhật Bản, và về sau là Hàn Quốc, Hương Cảng, Đài Loan và Tân Gia Ba) vào thế kỉ 20. Họ gọi đó là “East Asian Miracle”. Có hai lí thuyết chính được đề ra để giải thích: neo-liberal (tạm dịch: “tân tự do”) và developmental state (không biết dịch thế nào, tạm dịch “chính phủ kiến tạo”).

5. Những người neo-liberal cho rằng để có được phát triển kinh tế, những nước nghèo cần tự do thương mại (free trade), thị trường tự do (free market) không có sự can thiệp của chính phủ (no government intervention); chính phủ chỉ đóng vai trò tối thiểu như bảo vệ những thứ căn bản như quyền sở hữu tài sản (property rights) và đảm bảo hợp đồng (contract enforcement) mà thôi. Nói chung, mọi thứ cứ để thị trường lo. Chủ nghĩa này rất được nhiều người thích, nhất là những người có hình ảnh về hệ thống công quyền tương tự trong truyện cười 2 con sư tử Brazil. Cái gọi là “East Asian Miracle” chẳng qua cũng chỉ là sự áp dụng các chính sách tự do này mà thôi. Báo cáo “The East Asian Miracle Project” của World Bank vào 1993 đã tuyên bố: công thức đằng sau chỉ là “getting the prices right”. Thị trường sẽ định giá mặt hàng, chứ không phải chính phủ. Chính phủ trợ cấp cho ngành sản xuất nào đó là đang gây nhiễu thị trường, giá cả vì thế sẽ không phản ánh giá trị thực, công việc sản xuất sẽ không được tối ưu.

6. Những người theo trường phái developmental state thì lại cho rằng chính phủ đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Nếu không có chính phủ bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước thì còn lâu Nhật mới có Toyota, hay Hàn mới có Hyundai. Peter Evans, một nhà xã hội học ở UC Berkeley, có một lập luận rất hay. Ông cho rằng không phải nhà nước nào cũng như nhà nước nào (states are not generic), và vì thế không phải sự can thiệp của nhà nước (state intervention) nào cũng là xấu. Một nhà nước predatory (có hại, luôn tham nhũng, ăn chặn của dân, làm kinh tế trì trệ) hay một nhà nước developmental (luôn kiến tạo cho phát triển kinh tế) tuỳ thuộc vào việc liệu nhà nước đó có cái gọi là “embedded autonomy” hay không.

7. “Autonomy” trong “embedded autonomy” nghĩa là gì? Nó có nghĩa là bộ máy công quyền (bureaucracy) mang tính độc lập, không bị ảnh hưởng bởi lợi ích tư (autonomous, independent of private interests). Để có được điều này, bộ máy công chức phải có một sự gắn kết đoàn thể (corporate coherence) nhất định. “Corporate coherence”, Evans chỉ ra, gồm hai thứ. Một là tuyển dụng dựa trên thực tài (meritocratic recruitment). Anh biết ai, không quan trọng. Anh giỏi, đó mới quan trọng. Hai là cơ chế thăng tiến/thưởng lâu dài (long-term career advancement/rewards). Vị trí công chức không phải là vị trí “dead-end”, vào làm mấy chục năm thì cũng ngồi mãi vị trí đó, mà phải có hệ thống thưởng và thăng tiến những người làm lâu năm. Có thể hiểu nôm na là coi bộ máy nhà nước như là một tập đoàn tư nhân. Tập đoàn yêu cầu người giỏi và theo lâu dài. Thường chúng ta không tưởng tượng nhân viên tập đoàn lớn vụ lợi, ăn chặn cho mình, mà thường nghĩ họ rất trung thành với tập đoàn.”Corporate coherence” sẽ giúp kìm hãm những mục tiêu, hành vi vì tư lợi.

8. Từ “embedded” nghĩa là bộ máy công chức này được “nhúng” trong xã hội. Tức là những người công chức không phải chỉ ngồi văn phòng, mà phải có mối quan hệ với các nhóm trong xã hội, đặc biệt là giới kinh doanh, công nhân, nông dân… Mối quan hệ và các kênh liên lạc để bàn luận, đàm phán (negotiations) giữa bộ máy công chức và các nhóm trong xã hội phải được thể chế hoá (institutionalized). Khi mà bộ máy công chức có mối quan hệ thiết với các nhóm đối tượng trong xã hội, họ sẽ có nhiều thông tin để hoạch định chính sách được tốt hơn. Ví dụ, ở Hàn thời Park Chung-hee (và kể cả hiện tại), chính phủ làm việc mật thiết với các tập đoàn lớn (chaebol). Ở Nhật, bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (Ministry of Economy, Trade, and Industry – METI) luôn làm hết sức mình để bảo vệ lợi ích ở nước ngoài của các công ty, tập đoàn như Mitsubishi, Toyoka…

9. Những nước đông Á (Nhật, Hàn, Đài Loan, Hương Cảng và Tân Gia Ba) là những nước có cơ cấu gần với “embedded autonomy”. Phần lớn đều có truyền thống thi tuyển công chức: từ thời phong kiến đã có các kì thi tuyển quan lại. Các cơ quan nhà nước quyền lực ở các xã hội này đều tập trung rất nhiều người giỏi. Một phần rất lớn sinh viên các đại học hàng đầu như Đại học Quốc gia Seoul hay Đại học Tokyo đều thi công chức sau khi tốt nghiệp. Các bộ danh giá như bộ ngoại giao, bộ công thương… đều là điểm đến hàng đầu của các sinh viên ưu tú. Không phải ngẫu nhiên mà ta bắt gặp các hình ảnh học điên cuồng chỉ để qua được kì thi tuyển công chức, hay người giỏi lại không làm tư nhân mà vào chính phủ, trong phim, truyện Nhật, Hàn. Ngẫm lại thì Nagasawa và Hee-joon không hẳn là quá khùng điên khi đầu quân cho chính phủ. METI được người Nhật mệnh danh là “cơ quan nhân sự” bởi đây là nơi đào tạo ra các lãnh đạo giới chính trị, kinh doanh và kể cả giới học thuật. Ngoài ra, METI còn nổi tiếng về môi trường tiến bộ và tự do (liberal).

10. Các nước châu Phi thường vắng bóng của một bộ máy nhà nước mạnh và không bị ảnh hưởng bởi lợi ích tư lại thường là những nước kém phát triển. Ấn Độ và Brazil nằm lưng chừng giữa “developmental” và “predatory”. (Mình nghĩ VN cũng nằm trong khoảng này. Hiện tại thì làm nhà nước ở VN chỉ được nghĩ là “ổn định”, chứ vẫn chưa đạt được “meritocratic” và lương bổng chưa đủ cao để hút người giỏi nhất. Và nó lại quá to.) Nhật, Hàn và các nước đông Á khác thì chắc chắn nằm ở đầu “developmental”. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa bộ máy chính phủ các nước này cồng kềnh. Nhiều báo cáo đánh giá, bộ máy ở Nhật “inexpensive, small, and elite”. Chính phủ kiến tạo nhiều không nhất thiết là chính phủ to bự. Nhưng nó phải là một chính phủ chủ động, không phó mặc mọi thứ cho thị trường. Để đạt được phát triển kinh tế, cần:

  • xây dựng một bộ máy công chức dựa trên khả năng kĩ trị với hệ thống thăng tiến và thưởng hậu hĩnh, chứ không dựa trên sự trung thành với tư tưởng chính trị
  • thể chế hoá các kênh trao đổi, đàm phán giữa chính phủ và các nhóm xã hội, chứ không hoạt động theo cơ chế top-down (nhà nước ra chỉ thị, xã hội thi hành)

11. Hãy viết ra 3-5 gạch đầu dòng: bạn nghĩ gì khi nghĩ về người công chức VN?

  • Thích ổn định
  • Lương thấp
  • Khả năng trung bình
  • Khó xin được 1 suất công chức/khó thăng tiến nếu không có quan hệ
  • Phải “chân trong, chân ngoài”: tận dụng vị trí của mình để làm công việc kinh doanh bên ngoài.

Hãy viết ra 3-5 gạch đầu dòng nữa: bạn nghĩ gì khi nghĩ về nhân viên tập đoàn nước ngoài lớn, như Unilever hay Amazon?

  • Lương cao.
  • Giỏi.
  • Tuyển dụng dựa trên thực tài.
  • Có khả năng thăng tiến nếu làm việc tốt và lâu năm.

Dĩ nhiên không phải ai làm tập đoàn lớn cũng giỏi, và không phải tập đoàn nào lương cũng cao. Nhưng cũng ít ai nghĩ sinh viên giỏi và tham vọng chạy đua thi công chức thay vì khởi nghiệp hay ứng tuyển cho các tập đoàn hàng đầu sau khi tốt nghiệp.

12. Tham khảo:

  • Báo cáo 1993 của World Bank: “The East Asian Miracle: Economic Growth and Public Policy”
  • Giới nghiên cứu đánh giá báo cáo 1993 của World Bank: “Miracle or Design? Lessons from the East Asian Experience” của Albert Fishlow, Catherine Gwin, Stephan Haggard, Dani Rodrik, và Robert Wade
  • Về tầm quan trọng của bộ máy nhà nước: “Embedded Autonomy: States and Industrial Transformation” của Peter Evans
  • Vai trò của chính phủ trong việc phát triển kinh tế ở Đài Loan: “Governing the Market: Economic Theory and The Role of Government in East Asian Industralization” của Robert Wade
  • Vai trò của chính phủ trong việc phát triển kinh tế ở Hàn Quốc: “Asia’s Next Giant: South Korea and Late Industrialization” của Alice Amsden.
Posted in Xã hội | Leave a comment

Kinh tế, môi trường, và trách nhiệm của giới hàn lâm

1. Tháng 4/2016, cá chết hàng loạt ở vài tỉnh miền trung VN. Nguyên nhân điều tra là do một nhà máy hoá chất của Đài Loan, Formosa, đã xả chất thải chưa qua xử lí. Nhiều người cho rằng điều này là tất yếu: muốn phát triển kinh tế phải đánh đổi về mặt môi trường. Cụ thể, nếu có chính sách môi trường quá khắt khe thì sẽ dẫn đến việc làm ít đi cho người dân, hoặc lương bị cắt giảm bù vào chi phí môi trường.
2. Ở Mỹ, người dân thích gắn mác “liberal” hay “conservative” cho nhau. “Liberal” thường chỉ những người bầu cho đảng Dân Chủ (Democratic Party), còn “conservative” chỉ những người cùng thiên hướng chính trị với các chính sách của đảng Cộng Hoà (Republican Party). Các chính trị gia “conservative” thường bỏ phiếu phủ quyết các đạo luật bảo vệ môi trường, với lập luận rằng những đạo luật này sẽ làm mất đi việc làm và thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên, đây chỉ là một giả thuyết, chưa được kiểm chứng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng ít việc làm vì luật môi trường khắt khe hơn chỉ là một hiệu qủa tiêu cực nhất thời ngắn hạn, và về dài hạn, quản lí chặt chẽ vẫn tốt hơn cho người dân. W. Reed Walker, một nhà kinh tế học nghiên cứu Clean Air Act được Hoa Kỳ thông qua vào 1990, chỉ ra rằng tuy đạo luật này làm cho công nhân làm trong các nhà máy mất 5.4 tỷ đô, mất mát này rất nhỏ so với lợi ích dài hạn. (Jenna Ruddock có một bài phân tích khá hay về việc bảo vệ môi trường làm hại việc làm ở trên trang medium.)
3. Hans Rosling là một bác sĩ, nhà dịch tễ học người Thuỵ Điển. Năm 1979, ông cùng vợ và hai con nhỏ chuyển tới Mozambique, một nước thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha ở châu Phi. Trước đó vài năm, ông gặp Eduardo Mondlane, người sáng lập Mặt Trận Giải phóng Mozambique. Mondlane nói Mozambique sẽ gặp rất nhiều khó khăn sau khi giành được độc lập từ Bồ Đào Nha. Rosling kể lại rằng, Mondlane từng bắt tay ông và nói, “Promise you will work with us.” Sau này, dù Mondlane đã qua đời, Rosling vẫn giữ lời hứa trở thành bác sĩ duy nhất của hơn 300,000 người dân ở bắc Mozambique. Năm 1981, một nữ tu sĩ người Ý viết thư cho ông, mời ông đến nơi bà đang làm việc để chữa một chứng bệnh liệt cả hai chân kì lạ mà người dân trong vùng đang mắc phải. Những người bị bệnh này ăn một loại sắn đắng để sống. Đây là loại cây lương thực duy nhất sống được trong vùng khô hạn này. Loại cây này hoá ra chứa một loại chất độc, chỉ có thể được giải nếu ngâm sắn nhiều ngày. Tuy nhiên, vì khô hạn không có nước, nên người dân bỏ qua bước này. Cuối năm 1981, Rosling trở về Thuỵ Điển và trở thành giảng viên, chuyên về y tế công cộng ở các nước kém phát triển châu Phi. Rosling thấy rằng các đồng nghiệp và sinh viên ở phương Tây không hình dung được “extreme poverty” là như thế nào. Ola, con trai của Rosling, cùng với cha mình đã làm một phần mềm đồ hoạ giúp hình dung dữ liệu về thế giới, được cung cấp bởi Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Liên Hợp Quốc (United Nations). Thế giới đã có một bước tiến dài trong việc xoá giảm đói nghèo, và Rosling rất vui vì việc đó. Ông tiếp tục dùng khả năng giúp công chúng hình dung thực trạng thế giới một cách chính xác, cho mọi người thấy thế giới này đang từng bước tốt đẹp hơn. Hans Rosling là một ví dụ điển hình của một nhà khoa học luôn trình bày các nghiên cứu và “facts” một cách dễ hiểu, để đem một hình ảnh chính xác hơn về thế giới đến với công chúng. Ông vừa qua đời ngày 7/2/2017 sau một thời gian bị ung thư, hưởng thọ 68 tuổi. (Trang Nature có một bài rất hay về ông.)
4. Trong tâm lí học có hai khái niệm rất hay. Một là “echo chamber”. Tưởng tượng rằng bạn có một cái tô to trùm quanh đầu mình. Khi bạn nói gì thì tiếng của bạn sẽ được vọng (echo) lại. Kết quả là bạn chỉ nghe được những gì mình nói. “Echo chamber” ý chỉ việc chúng ta sống trong những cộng đồng có tư tưởng giống mình nên chỉ nghe thấy được những ý kiến giống của mình, nhất là trong thời đại social media. Facebook có thuật toán chỉnh newsfeed sao cho người dùng chỉ đọc được những tin tức có cùng với thiên hướng chính trị với họ. Kết quả là người Mỹ “liberal” thì sẽ mãi đọc tin tức từ các trang  cánh tả, người Mỹ “conservative” thì sẽ mãi đọc các trang cánh hữu/cực hữu. Khái niệm còn lại cũng khá liên quan, là “cognitive dissonance”. Đại loại rằng, khi bạn nhận được một thông tin trái với niềm tin của bạn (vd như bạn tin rằng Sài Gòn đang ngày càng đi xuống, nhưng lại vừa đọc được rằng kinh tế Sài Gòn đang phát triển), bạn có xu hướng bỏ qua thông tin đó để giữ vững niềm tin của mình. Hai khái niệm này giải thích khá rõ vì sao xã hội Mỹ khá chia rẽ, nhất là sau khi Donald J. Trump trở thành tổng thống.
5. Để có một cuộc tranh luận thực sự hữu ích, nơi sự thật và khoa học được tôn trọng, thì người dân cần có một nguồn thông tin khách quan và dựa trên khoa học. Nếu không thì tranh luận sẽ chỉ là một đấu trường của âm lượng, nguỵ biện và xảo ngôn. Giới hàn lâm, những người được trang bị kĩ lưỡng nhất để tìm hiểu về sự thật trên thế giới này, lại bị phê phán là sống trong tháp ngà (ivory tower), xa rời với quần chúng và thực tế. Những nghiên cứu của họ không ai hiểu được trừ bản thân họ. Điều này khó tránh được, bởi đi tìm sự thật không phải là điều đơn giản, mà là điều rất phức tạp. Tuy nhiên, để có được những cuộc tranh luận hữu ích, chúng ta cần những người như Hans Rosling, những “phiên dịch viên” kết nối giới hàn lâm và quần chúng nhân dân. Suy cho cùng, quyền quyết định rơi vào tay người dân, vì họ sẽ là những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Để quyết định sáng suốt, người dân cần được trang bị những kiến thức, tri thức chính xác, xác thực về thế giới này. (Hiện ở Mỹ, một nhóm nhỏ các nhà kinh tế học đã lập ra EconoFact, một trang chuyên cung cấp các “facts” và phân tích kinh tế một cách dễ hiểu, để người không được đào tạo sâu vẫn nắm được.) Suy cho cùng, để dân chủ thực sự hoạt động tốt, chúng ta cần giới hàn lâm chịu khó ra khỏi tháp ngà thường xuyên hơn.
Posted in Mỹ, Xã hội | Leave a comment

Tôn giáo và cực đoan

1. Thủ phủ Topeka của tiểu bang Kansas (Hoa Kỳ) có một nhà thờ gọi là nhà thờ Westboro Baptist, được thành lập vào năm 1931 bởi Fred Phelps. Nhà thờ có tầm 40 thành viên. Tuy nhiên, đây không phải là nơi bình thường. Westboro Baptist nổi tiếng (chính xác hơn là tai tiếng) với các hoạt động kì thị của mình: anti-LGBT, anti-Hồi giáo, anti-Do thái, thậm chí anti cả Công giáo và Chính thống giáo (Orthodox Christianity). Các thành viên hay biểu tình ở các lễ tang của binh sĩ Mỹ, người đồng tính, hay ở trước bảo tàng Holocaust về nạn diệt chủng Do Thái. Có lẽ đáng chú ý nhất là biểu tình với băng rôn “Cảm ơn Chúa vì 11/9”. Westboro Baptist cho rằng những sự kiện nhiều người chết này là Chúa đang trừng phạt loài người đã sống không đúng theo tôn chỉ của Chúa. Mặc dù tôn chỉ của nhà thờ Westboro Baptist là “không bạo lực”, tuy nhiên nếu Hoa Kỳ không có xã hội pháp quyền thì không chắc nhóm này sẽ leo thang tới đâu. Trong lịch sử đã có nhiều cuộc chiến, thanh trừng đẫm máu nhân danh Chúa.

2. Ashin Wirathu là một nhà sư Phật giáo ở Miến Điện. Tuy nhiên, đây không phải là một nhà sư bình thường. Ông là lãnh tụ tinh thần của Phong trào 969, một phong trào kì thị và chống lại người theo đạo Hồi ở Miến Điện. Phong trào này cho rằng Miến Điện đang đứng trước nguy cơ Hồi giáo hoá, và với tư cách là những nhà sư và Phật tử “yêu nước”, tất cả cần đứng lên chống lại người đạo Hồi. Gần đây, nhiều người Rohingya thiểu số theo đạo Hồi ở Miến Điện bị trục xuất, nhiều trường hợp bị giết bởi các đám đông Phật tử và nhà sư. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) báo cáo có rất nhiều vụ bạo lực (có sự giúp đỡ của Nhà nước và quân đội Miến Điện) với người đạo Hồi nơi đây. Đáng chú ý nhất, năm 2016 người Rohingya theo đạo Hồi bị sát hại bởi quân đội và Phật tử cực đoan ở bang Rakhine. Aung San Suu Kyi, lãnh tụ phong trào dân chủ ở Miến Điện, không hề lên tiếng chỉ trích. “Phật giáo cực đoan” nghe khá buồn cười, nhưng là một chuyện có thật, không chỉ ở Miến Điện mà còn ở các nước khác như Thái Lan và Sri Lanka.

3. Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ, Donald J. Trump, vừa qua ký sắc lệnh cấm công dân từ 7 nước Hồi giáo nhập cảnh vào Mỹ, kể cả khi họ đã có thẻ xanh. Biểu tình lập tức nổ ra. Trump phải thay đổi một sắc lệnh của mình một chút, và Reince Priebus, Chánh văn phòng Nhà Trắng, tuyên bố sửa đổi rằng “những người có thẻ xanh có thể nhập cảnh”. Lí do Trump đưa ra sắc lệnh này là để bảo vệ công dân Hoa Kỳ khỏi những kẻ đạo Hồi cực đoan. Chính quyền Trump và nhiều người Mỹ tin rằng đạo Hồi cực đoan là vì trong giáo lí. Nếu chỉ vào ISIS và al-Qaeda và kết luận Hồi giáo cực đoan, thì ta hoàn toàn có thể nhìn vào Westboro Baptist và 969 và nói rằng Thiên chúa giáo và Phật giáo cũng cực đoan. Bất kì tôn giáo nào cũng có nhánh cực đoan, và tuỳ thuộc vào điều kiện xã hội, lịch sử mà liệu sự cực đoan này có thể được phát triển hay không.

4. Bảy nước bị cấm gồm có Iran, Iraq, Somalia, Sudan, Libya, Yemen và Syria. Tuy nhiên, có một chi tiết khá thú vị. Bloomberg và Fortune chỉ ra rằng Trump không cấm những nước Hồi giáo mà tập đoàn của ông có quan hệ làm ăn, như Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ. Tờ Telegraph của Anh, một tờ báo trung hữu (centre-right) và bảo thủ (conservative), cũng nói rằng sắc lệnh của Trump không cấm những nước có liên quan đến vụ khủng bố 11/9 là Ai Cập, Các Tiểu Vương quốc A rập Thống nhất, và Saudi Arabia. Đáng chú ý hơn, nhánh hồi giáo chính thống ở Saudi Arabia, Wahhabism, là một nhánh được đánh giá cực đoan bởi nhiều học giả nghiên cứu Hồi giáo.

5. Nói tí về Iraq. Tổng thống 43 George W. Bush ra lệnh đánh chiếm Iraq, lật đổ Saddam Hussein. Chiến thắng của Mỹ đã để lại một khoảng trống quyền lực ở Iraq – một điều kiện thuận lợi cho các nhóm Hồi giáo cực đoan nổi dậy.

6. Nói tí về Iran. Vào năm 1953, Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA), với sự hợp tác của Anh, đã thành công trong việc lật đổ Thủ tướng Mohammad Mosaddegh được bầu một cách dân chủ. Mỹ thiết lập chế độ quân chủ ở Iran, đưa Mohammad Reza Pahlavi lên làm vua Iran (Shah of Iran). Nếu nhìn vào lịch sử, sự bất ổn của Trung Đông luôn có bàn tay của phương Tây góp vào. Khủng bố không tự dưng xuất hiện. Và nếu cứ mãi gieo gió, thì bão sẽ mãi tới, ngày một mạnh hơn.

Posted in Mỹ, Xã hội | Leave a comment