Gun Rights vs. Nuke Rights

477 Days. 521 Mass Shootings. Zero Actions from Congress.

I find it weird that a lot of Americans (usually conservatives/Republicans) think the best way to stay safe is to allow people to have guns. One theory behind is “the good guy with a gun” – in case of a shooting, for example, people with guns can protect themselves. Behind the Second Amendment, which protects the citizens’ right to bear arms, is an outdated fear: the government becomes authoritarian, and thus citizens must be equipped with arms to defend themselves.

Let’s consider an analogy between individuals and states (countries). Analogies are far from perfect, but they sometimes shed light on how absurd things can be. 

(A) I believe every state has the right to defend itself from the aggression of another state. For example, the UK had the right to bomb German cities during World War II. This sounds perfectly plausible; in case a country becomes authoritarian (not in the sense how it deals with domestic matters, but in how it wants other countries to follow its orders) and attacks another country, the victim is justified in fighting back.

(B) 9 countries have nuclear weapons (aka nukes): US, Russia, UK, France, China, India, Pakistan, North Korea and Israel. Because nukes are weapons of mass destruction (WMD), the only kind of weapons that can be used to deter enemies with such WMD is… nukes. Again, this sounds plausible to me. If my neighbor who has repeatedly manifested intent to harm me, keeps guns in his house and often flouts his weapons to make me comply with his orders, then it is unreasonable that you allow him to have guns while permits me to have only baseball bats or knives.

From (A) and (B) it is logical that every country should be allowed to have nukes. Maybe you don’t need a lot of nukes to wipe out a whole country, but you should have at least a few nukes to say to potential aggressors that, “hey y’all, you can beat me to death but I can at least cripple you.” The position that every country should have nukes is very weird, and you say the world would be very unsafe! I don’t disagree. I think no country should have nukes. But if you think so, you must also think that in a society where everyone has the right to carry guns, that society is indeed very unsafe. But oh well, the opponents to gun control in the US do not seem to think this way. I find it amusing many conservatives/Republicans hate the idea that Iran and North Korea can have nukes while still receive money from the National Rifle Association.

Advertisements
Posted in Mỹ | Leave a comment

Đại học (2)

Phần 1 có thể được xem ở đây.

What Higher Education Should Be For?

1. Kinh tế học tân cổ điển (neoclassical economics), trường phái kinh tế mainstream hiện tại, cho rằng con người duy lý (rational), luôn muốn nhiều hơn là ít, vì vậy luôn chọn phương án hiệu quả nhất (most efficient) để mang lại giá trị cao nhất (maximize value). Ngoài ra, kinh tế học tân cổ điển cũng cho rằng con người duy lý có đầy đủ thông tin (perfect information) khi ra quyết định. Với hai giả thiết này, các nhà kinh tế xây dựng các mô hình toán học để dự đoán hành vi và trạng thái của người tiêu dùng (consumer) hoặc công ty (firm), nếu đó là kinh tế vi mô (microeconomics), và nền kinh tế (economy), nếu đó là kinh tế vĩ mô (macroeconomics). Kinh tế học trong khoa học xã hội như là vật lý trong khoa học tự nhiên, nơi toán nghiễm nhiên trở thành ngôn ngữ không thể thiếu.

2. Tuy nhiên, trong thực tế, con người không phải lúc nào cũng duy lý (cảm xúc ảnh hưởng rất nhiều), và thông tin chả lúc nào là đầy đủ (imperfect information). Ngoài ra, việc cho rằng tồn tại mối quan hệ định lượng (quantitative relationship) tồn tại giữa các cá thể trong xã hội là hơi vô lí. Ví dụ, khá vô lí khi cho rằng tôi cưới vợ thì hạnh phúc giảm 1000 đơn vị, anh bỏ vợ thì hạnh phúc tăng 2000 đơn vị. Việc toán hoá các mối quan hệ xã hội, một thứ rất phổ biến trong kinh tế học, vì thế, đôi khi khá kì dị. Kinh tế học trừu tượng hoá các mối quan hệ xã hội và thay bằng toán, vô tình bỏ quên đi những yếu tố quan trọng khác như văn hoá, lịch sử… Ví dụ, khái niệm tín dụng qua hàng ngàn năm thay đổi rất nhiều, tuỳ thuộc vào điều kiện xã hội – chính trị và công nghệ của nền văn minh. Tín dụng bây giờ có thể là tiền ảo, là bitcoin, nhưng ngày xưa nó có thể là ngũ cốc, là vỏ sò. Các mô hình kinh tế bỏ qua các chi tiết lịch sử – xã hội – chính trị của các khái niệm này, và thay vào đó là những con số trừu tượng, cho rằng tín dụng thời kì nào cũng như nhau. Các quyết định kinh tế đa phần không hoàn toàn dựa trên các tính toán duy lý, mà phần nhiều chịu ảnh hưởng của chính trị, văn hoá, xã hội.

3. Vì vậy, kinh tế học, nếu học sâu, sẽ khá hẹp. Cần những góc nhìn từ các ngành khác như tâm lý học, chính trị học, xã hội học, nhân học, và đặc biệt là lịch sử. Dĩ nhiên, những kẻ học kinh tế thì rất giỏi giải toán, và luôn sẵn tay gạt qua các ngành khoa học xã hội khác. Vì thế, nếu chỉ học kinh tế, các nhà kinh tế học tương lai sẽ mãi không thể nào giải quyết được các vấn đề mà môn kinh tế gặp phải. Sự vĩ đại của giáo dục khai phóng (liberal arts) nằm ở chỗ nó cho người học một hi vọng thoát khỏi sự hạn hẹp về mặt tri thức này. Giáo sư Schwartz tóm gọn khá hay: “It was an axiom of the upheavals of the 1960’s and 1970’s that “you can’t take down the master’s house with the master’s tools.” What this means to me in the context of higher education is that you can’t discover the deep limitations of economics by only studying economics.”

4. Và đây là đoạn đắt giá nhất bài: “Liberal arts training, done well, appreciates and exposes students to the many different forms that good thinking takes, that truth takes, and that evidence takes. It nurtures a kind of wise appreciation of the complexity of the world and it’s problems.” Nói tóm lại, thế giới này quá phức tạp để ta chỉ học một thứ. Ví dụ, vấn đề kém phát triển và đói nghèo không thể nào được giải quyết với kinh tế học, mà còn cần tri thức và kinh nghiệm từ các ngành khác.

Posted in Giáo dục | Leave a comment

Đại học (1)

Why Picking a Major Is a Bad Idea for College Kids

1. Có vài người bạn học ở Minerva và Olin, hai trường có mô hình giáo dục khá khác lạ so với các trường truyền thống. Mình chưa nói chuyện nhiều với các bạn về cách học ở hai trường này, nhưng có một ấn tượng là Minerva và Olin tập trung vào tư duy hơn là nội dung. Ví dụ, mượn câu chuyện của ông bạn Khang Vũ học Olin, một trường kỹ thuật rất xịn ở Massachusetts. Ông này học lớp nọ có bài tập đi phác hoạ con bổ củi, tìm hiểu xem nó nhảy như thế nào, và làm một cái mô hình con bổ củi. Mình không học Olin nhưng mình nghĩ lớp này dùng để luyện tư duy cho các kỹ sư tương lai.

2. Giả sử thế kỉ XVIII có mô hình trường đại học như hiện tại, và cũng có môn kinh tế, thì môn đó dạy gì? Tất nhiên không dạy mô hình phát triển Solow (Solow-Swan model), mà sẽ dạy những thứ ‘state-of-the-art’ thời đó như physiocracy (không biết dịch thế nào). Physiocracy là một lý thuyết được phát triển bởi các nhà kinh tế Pháp. Lý thuyết này cho rằng mọi giá trị kinh tế (economic value) đều đến từ đất đai, và để kinh tế phát triển thì cần tập trung vào nông nghiệp. Francois Quesnay, một Physiocrat nổi tiếng, xuất bản tờ Tableau économique vào 1759 như là diễn đàn để bàn luật Physiocracy. Cuối thế kỉ XVIII – giữa thế kỉ XIX, tức vài chục năm sau, cách mạng công nghiệp bắt đầu, Physiocracy bắt đầu lỗi thời. Ngày nay, tức hơn 250 năm sau nhìn lại, Physiocracy rất nực cười. Thậm chí vào đầu thế kỉ XX, tức 150 năm sau, Physiocracy cũng rất ngô nghê.

3. Câu chuyện về Physiocracy nói lên điều gì? Kiến thức dễ bị lỗi thời. Nhất là trong thế kỉ này. Năm 2000, người dân VN bắt đầu có điện thoại đập đá Motorola và Nokia, oai như cóc, hi-tech vãi nhái. Nghe gọi bất cứ nơi đâu. Chả ai nghĩ được chỉ 17 năm sau, người dân ngồi quẹt quẹt vài nhát (trên iPhone) là có xe ôm Grab hay Uber tới nhà đưa đi nhậu tiêu thụ 3.8 tỉ lít bia. Nói chung công nghệ phát triển theo cấp số nhân. Như vậy, có thể nói kiến thức, nhất là khoa học tự nhiên, cũng phát triển theo tốc độ tương tự.

4. Công nghệ thay đổi xã hội, vì vậy nên kiến thức từ khoa học xã hội cũng phát triển tương tự theo. Lấy một ví dụ kinh tế nữa. Xã hội loài người ban đầu không dùng ngay tiền giấy, mà dùng vỏ sò, lương thực, kim loại quý (như vàng, bạc)… Trải qua một thời gian dài thì tiền giấy mới nổi lên. Giờ thì tiền chủ yếu là ảo, là số trong hệ thống ngân hàng, chứ không phải giấy. Khi chị B venmo anh A thì ngân hàng không có lấy tiền giấy từ két chị B sang két anh A, mà chỉ đơn giản là thay đổi số tiền của 2 người trong hệ thống. Tiền về bản chất là tín nhiệm (có thể đọc The Ascent of Money của Niall Ferguson để biết thêm chi tiết), nhưng qua thời gian nó thay đổi rất nhiều hình thái. Vì vậy, không thể nói tiền kim loại thời trung cổ có hành vi và tác động giống tiền ảo như hiện nay được. (Chưa kể hệ thống kinh tế-xã hội thời trung cổ khác xa với bây giờ.) Tạo nhiều tiền thì gây ra lạm phát, nhưng chi tiết về hiệu ứng của lạm phát thì không thể giống nhau.

5. (2), (3), và (4) ý nói rằng kiến thức sớm muộn gì cũng sẽ lỗi thời, bất kể kiến thức tự nhiên hay xã hội. Đi học đại học chủ yếu là học kiến thức. Nhưng với tốc độ như hiện nay thì không ai biết được những gì mình học trong 3-4 năm đại học có giúp ích gì được cho mình trong vài thập kỉ tới hay không, kể cả về mặt việc làm lẫn thế giới quan. Ví dụ, nhân viên kế toán khá dễ bị thay thế trong nhiều năm tới bởi máy tính (97.6%, tham khảo tại đây). Có thể viễn cảnh này quá bi đát; nhiều việc máy tính không làm được. Nhưng máy tính bây giờ đang học lái xe và nấu ăn, thậm chí tạo ra ngôn ngữ riêng mình thì ai biết được điều gì sẽ xảy ra?

6. Đại học có thể ứng phó lâu dài nếu thay đổi trọng tâm, không đặt trọng tâm vào dạy kiến thức nữa, mà hướng sang tư duy. (Nghe khác cliché nhỉ. Nhưng đợi tí.) Davidson, tác giả bài viết trong đường dẫn đầu bài, cho rằng đại học nên dạy cách tổng hợp (synthesize) kiến thức. Tổng hợp là một khả năng tư duy, chứ không phải một chủ đề kiến thức như kinh tế vĩ mô hay kỹ thuật cơ khí. Nếu tập trung vào tư duy thì dù kiến thức có thay đổi, ta vẫn có thể học kiến thức mới và tổng hợp nó lại ra thứ gì đó có ích được. Nghĩa là tư duy thì không (hoặc khó) bị lỗi thời như kiến thức. Các trường đại học hiện nay đều có một hệ thống chuyên ngành (major). Hệ thống này vô tình làm trường đại học tập trung vào dạy kiến thức chứ không dạy tư duy. Tư duy là thứ gì đó người học tự nghiệm ra, là một “side-effect” hơn là thứ được chủ động trui rèn. Ở Mỹ tình trạng này đỡ hơn vì có giáo dục khai phóng (liberal arts); sinh viên phải học nhiều lớp ngoài lớp chuyên ngành (lớp “core”) vì thế có thể học cách tư duy tổng hợp kiến thức từ nhiều ngành. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đa số sinh viên học cho xong các lớp “core” này để rồi tập trung vào “major” của mình.

7. Vấn đề dạy tư duy như thế nào thì hiện không rõ, đó là một vấn đề mà các trường đại học phải tự tìm ra trong tương lai. Minerva và Olin chưa cắt bỏ hoàn toàn hệ thống “major” được, nhưng đang bước đầu thử nghiệm các phương pháp giảng dạy tư duy.

Posted in Giáo dục | Leave a comment

Dịch thuật là nghệ thuật

Càng đọc văn học nước ngoài càng thấy tiếng Việt rất giàu đẹp, và dịch thuật là một việc sáng tạo (creative work) không kém gì viết văn.

Lấy ví dụ một trích đoạn trong tác phẩm frog của nhà văn Mo Yan (bản gốc tiếng Trung, dịch sang tiếng Anh). Bối cảnh là nhân vật chính ngồi nghe thằng bạn chí cốt kể chuyện yêu đơn phương và viết thư tình cho cô y tá ở trạm y tế xã.

What do you want to tell me?
You have to promise not to tell any one.
Okay, I promise. If I breath a word of what Wang Gan tells me, let me fall into the river and drown.
Today I… I finally dropped a letter to her in the postbox…
[…]
To who? The way you’re acting, it sounds like you wrote to chairman Mao.
Why would you say that? What does Chairman Mao have to do with me? No, I wrote to her. Her.

Một ví dụ tiếng Việt giàu đẹp: có rất nhiều đại từ chỉ bản thân (“I”), như “tôi”, “tao”, “mình”, “em”, “tớ”… tuỳ thuộc vào bối cảnh và cảm xúc. Vì đây là hai thằng bạn chí cốt nên dịch tôi sẽ rất dở. Ví dụ như dịch 3 câu cuối.
“Tại sao bạn nói như vậy? Mao Chủ Tịch thì có gì với mình?”
Nghe rất bựa. (Chưa kể dịch “have to do with me” thành “có gì với mình” cũng bựa không kém.)
Nhưng nếu sáng tạo hơn một chút thì có thể dịch thành:
“Sao mày nói vậy? Mao Chủ tịch thì liên quan gì đến tao?”
Vì đây là hai thằng bạn thân nên đại từ “mày” và “tao” sẽ hay hơn.

Dịch tiếp câu cuối.

No, I wrote to her. Her.

“Không, tao viết cho cô ấy. Cô ấy.”
Dịch “her” thành “cô ấy” không có gì sai. Nhưng như đã nói, dịch thuật cũng sáng tạo không kém viết văn, và tiếng Việt rất giàu đẹp, nên có thể:
“Không, tao viết cho nàng! Nàng!”
Từ “nàng” làm cho người đọc cảm nhận được độ si tình của nhân vật hơn là “cô ấy” rất nhiều.

Ngoài ra thì việc có kiến thức bối cảnh (và vốn từ liên quan) của người đọc cũng quan trọng không kém. frog của Mo Yan kể về vùng quê Trung Quốc thời dân số tăng nhanh.

Family planning is national policy.

“Kế hoạch gia đình là chính sách quốc gia.”
“Kế hoạch gia đình” và “chính sách quốc gia” là 2 cụm từ nghe khá xa lạ. Nhưng:
“Kế hoạch hoá gia đình là quốc sách.”
Người đọc (là người VN) vốn quen với 2 cụm từ “kế hoạch hoá gia đình” và “quốc sách” hơn, nên chỉ với chút xíu điều chỉnh cho phù hợi với bối cảnh. Trong tiểu thuyết còn có nhiều cụm từ khác như “masses”, “Party member” và “Party secretary”. Nếu dịch thành “đám đông”, “thành viên Đảng”, và “thư kí Đảng” thì nghe rất xa lạ. Nhưng nếu dùng “quần chúng nhân dân”, “Đảng viên” và “Bí thư” thì ai cũng hiểu, vì người VN vốn rất quen thuộc với các cụm từ này.

Nói chung là tiếng Việt rất giàu đẹp, và dịch thuật là một nghệ thuật.

Posted in Văn chương | Leave a comment

A Moveable Feast

Hemingway và Murakami đều dùng từ ngữ và cấu trúc câu đơn giản, dễ hiểu, nhưng đọc thì rất khác nhau. Dĩ nhiên cả hai đều viết về tình yêu. (Thực ra thì, ai chả viết về tình yêu; đến cả Tố Hữu còn viết về tình yêu cơ mà – tình yêu bác Hồ.)

Ba năm sau khi Hemingway tự vẫn, cuốn hồi kí A Moveable Feast được xuất bản (1964), nói về những năm tháng “vô danh tiểu tốt” của ông ở Paris (1921-1926), la cà ở quán cafe ngồi viết báo viết truyện ngắn kiếm tiền, và đến trường đua ngựa thử vận may. Đọc cuốn hồi kí thì thấy thời gian này ông khá yêu vợ lúc bấy giờ là Elizabeth Hadley Richardson. Sau khi đi công chuyện ở New York, ông quay trở về Paris và định bắt tàu đi Áo ngay lập tức, nhưng:
“But the girl I was in love with was in Paris then, and I did not take the first train, or the second or the third.
“When I saw my wife again standing by the tracks as the train came in by the piled logs at the station, I wished I died before I ever loved anyone but her.
[…]
“I loved her and I loved no one else and we had a lovely magic time when we were alone.”

Nghe rất mùi, nhưng tháng 1/1927 Hemingway và Hadley ly dị. Hadley là người vợ đầu tiên trong số 4 người vợ của Hemingway. A Moveable Feast kết thúc một cách đơn giản nhưng đẹp đẽ:
“But this is how Paris was in the early days when we were very poor and very happy.”

Posted in Văn chương | Leave a comment

Tây Du Ký

Một vài quan sát từ chuyến du lịch bụi châu Âu từ ngày 9-24/3.

Ljubljana
1. Chỉ ba chữ cái c, s, z có thể có dấu mũ ngược trên đầu. Vài từ vựng. Ulica: đường (street); gostilna: nhà hàng; và hvala: cảm ơn.

2. Lúc người đi bộ chờ đèn đỏ thì có tiếng tick tick chậm rãi, đèn xanh thì tiếng đó dồn dập. Đèn đỏ vẫn có âm thanh để tạo cảm giác yên tâm, còn đèn xanh dốn dập để hối thúc người đi.

3. Những khu được quy hoạch để xe hơi có thể vào rất xấu.

4. Con sông Ljubljanica từng rất nhộn nhịp, là con đường để quân La Mã xuống vùng Balkan.

5. Bảo tàng quốc gia không ấn tượng, tạo cảm giác Slovenia là 1 phần nhỏ của sử La Mã và Trung Cổ. Thời La Mã còn có các đế chế khác như nhà Hán, Sasanian… Chợt nhớ TQ hay dùng quá khứ các triều đại hào hùng để tuyên truyền cho giấc mơ trỗi dậy và bá quyền. Liệu lịch sử có thể được dùng để củng cố chủ nghĩa dân tộc, làm công cụ cai trị?

6. Ở hostel khá được, nhưng cẩn thận người ngủ ngáy.

Praha
1. Namesti: quảng trường (square); dekuji: cảm ơn; most: cầu (bridge). Prosim là ‘please’ nhưng thường là câu nói sau khi người kia ‘dekuji’, nên nó giống như ‘không có chi’ (you’re welcome).

2. Khu người Việt (Little Hanoi) ở cộng hòa Séc cũng ‘sketchy’ không kém khu người Việt ở Mỹ. Người Việt có vẻ giỏi bán buôn nhưng không thuộc tầng lớp trung lưu trở lên. Như cái tên ngụ ý, ở đây ai cũng nói tiếng Bắc, vài người nghe giống Thanh Hóa. ‘Vietnamese diaspora’ là một lĩnh vực đáng nghiên cứu.

3. Praha đẹp nhưng quá ‘touristy’. Dọc 2 bên đường khu trung tâm toàn các hàng quán tiếng Anh, làm mình nghĩ tới Bùi Viện. Chả người Việt nào ăn cơm ở Bùi Viện cả. Khu công viên Petrin ít du khách hơn, đáng đi vì ‘view’ đẹp. Ljubljana tuy nhỏ nhắn, không ấn tượng như Praha, nhưng dễ chịu (pleasant), yên bình và không ‘overwhelming’ như Praha.

4. Tàu đi từ Praha đến Kraków không quá sạch đẹp nhưng đầy đủ: kem + bàn chải đánh răng, dép, bồn rửa mặt, chỗ móc áo khoác và để hành lí. Ngủ 1 đêm là tới nơi, không mệt mà còn rất sảng khoái (vì hôm trước đi nhiều quá mệt chăng?). Hồi trước đi từ Ljunljana sang Praha bằng bus, tuy không nằm nhưng ngồi cũng khá thoải mái, có dừng lại để khách đi vệ sinh. Du lịch châu Âu nên đi tàu/bus, nhưng chú ý địa lí (nước nào cạnh nước nào) để di chuyển tiết kiệm thời gian và rẻ.

Kraków
1. Tiếng Ba Lan giống tiếng Slovenia và tiếng Séc: trong tiếng Ba Lan, đường là ulica, còn cảm ơn là dziekuje. Sw là viết tắt của thánh, như St (saint) trong tiếng Anh.

2. Chọn bạn đồng hành khi đi du lịch. Có người thích tham quan, nhưng xem nhẹ ăn uống, và vì thế tiết kiệm tiền ăn. Có người muốn trải nghiệm ẩm thực địa phương hơn nên xem tiền ăn như tiền tham quan. Cần hiểu ‘preferences’ và thói quen sống hằng ngày của nhau để hiểu cho nhau.

3. Ngành quản trị nhà hàng-khách sạn trong tiếng Anh gọi là ‘hospitality management’. Khi một người tới một nơi lạ để du lịch, họ sẽ thích sự thân thiện/hiếu khách của người bản địa. Du khách tương tác nhiều với khách sạn và nhà hàng, vậy nên những người làm ngành này cần phải tỏ ra hiếu khách nhất (hospitable).

4. Ở Kraków, trên vé in số người. Ví dụ nhóm 3 người thì chỉ có 1 tấm vé, nhưng trên tấm vé có in số 3, thay vì 3 tấm vé như ở VN. Điều này giúp tiết kiệm giấy.

Budapest
1. Năm 2013, chính quyền Hungary dựng một đài tưởng niệm nạn nhân Đức Quốc xã ở quảng trường tự do. Đài tưởng niệm bao gồm đại bàng và thiên thần Gabriel. Tuy nhiên, nạn nhân và gia đình và những người đồng cảm phản đối đài tưởng niệm này vì nó sai lịch sử: Hungary lúc bấy giờ là đồng minh của Đức Quốc xã, và chính phủ tiếp tay cho nạn diệt chủng Do Thái và dân Di-găng. Họ mang hành trang của những người bị ép vào trại tập trung ra sắp xếp trước đài tưởng niệm để phản đối. Tự do ngôn luận không cần thiết phải dùng đến ngôn từ.

2. Nhiều người ăn xin ở Budapest (và các thành phố trung Âu khác) trông không giống dân bản xứ; da họ tối màu hơn. Họ là dân Di-găng. Dân Di-găng được cho là di cư từ bắc Ấn Độ lên từ thế kỉ XII. Tuy đã ở được châu Âu một khoảng thời gian khá dài, dân Di-găng vẫn là thành phần nghèo khó và bị xã hội ghét bỏ nhất. Nạn nhân của Đức Quốc xã không chỉ có người Do Thái mà còn có người Di-găng, và trong lịch sử họ đã là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc và nhiều tội ác có hệ thống khác (như Tiệp Khắc có chương trình triệt sản phụ nữ Di-găng, và những cuộc diệt chủng ở nhiều nơi). Khác với cộng đồng Do Thái, cộng đồng Di-găng không có các nhóm vận động hành lang mạnh.

3. Budapest phát triển quanh sông Danube. Tương tự, Ljubljana: Ljubljanica, Praha: Vltaca, Kraków: Vistula. Các thành phố lớn đều phát triển quanh một con sông. Một giả thiết là nền văn minh và sự định cư có nguồn gốc từ nông nghiệp: cần nước để tưới tiêu. Đây là lĩnh vực của môn địa lý. Môn địa lý con người (human geography) nói riêng và địa lý nói chung rất thú vị, nhưng lâu nay không được giáo dục VN quan tâm đúng mức.

Paris
1. Một lượng lớn người ăn xin và chuyên đi lừa du khách ở Paris là người Di-găng. Một chiêu trò phổ biến: một đám thiếu niên/phụ nữ trẻ sẽ kêu bạn ghi tên vào một danh sách ủng hộ người khuyết tật. Nếu bạn ghi tên vào sẽ bị đòi tiền “quyên góp”, hoặc sẽ bị móc túi trong lúc ghi tên. Dân Pháp nói riêng và dân châu Âu nói chung rất ghét người Di-găng vì họ hay gây ra rắc rối. Tuy nhiên, họ cũng vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân. Châu Âu có một lịch sử dài phân biệt và diệt chủng người Di-găng.

2. Bảo tàng Louvre chứa rất nhiều cổ vật, thậm chí cả mấy cột đá, từ các nước khác như Ai Cập. Để rồi khi người Ai Cập vào xem đồ vật từ nền văn minh của đất họ thì phải mua vé. Và họ phải nghe sự giảng giải của người Pháp về nền văn minh Ai Cập cổ đại. Rất đúng chất “thực dân”. (Làm nhớ tới sự khác biệt giữa Japanese studies và Japanology: cái đầu tiên nghiên cứu xã hội Nhật dưới cái nhìn từ bên ngoài, cái thứ hai từ bên trong. Nhưng Egyptology khả năng cao không mang nghĩa thứ hai.)

3. Đi bảo tàng cần đi nhiều lần, và cần kiến thức nền trước. Nếu không thì cũng chỉ như cưỡi ngựa xem hoa. Số lượng hiện vật quá nhiều, thông tin đính kèm cũng vậy (chưa kể rất phân mảnh) nên người tham quan sẽ khó hình dung được tổng thể.

Posted in Linh tinh | Leave a comment

Chuyện đàn bà

1. Năm 1937, tập đoàn Bendix cho ra mắt máy giặt tự động đầu tiên. Ngày 7 tháng 12 năm 1945, Trân Châu cảng bị tấn công. Hoa Kỳ chính thức tham chiến cùng phe Đồng Minh. Nhiều hoạt động sản xuất máy móc bị đình chỉ, cả nước tập trung cao độ sản xuất phục vụ chiến tranh. Tuy nhiên, nhiều công ty vẫn được chính phủ cho phép tiếp tục nghiên cứu máy giặt. Các lãnh đạo tập đoàn và kỹ sư cho rằng đây là một ngành mới đầy tiềm năng nên tận dụng khoảng thời gian chiến tranh để phát triển loại máy này. Năm 1947, sau khi chiến tranh kết thúc được 2 năm, ông lớn General Electric nhảy vào cuộc chơi với một loại máy giặt tự động cửa trên. Vào thập niên 50, máy giặt bắt đầu trở nên phổ biến ở châu Âu. Từ thập niên 90, máy giặt bắt đầu được tích hợp các vi mạch điều khiển, cho phép máy đáp ứng được nhiều nhu cầu phức tạp hơn của người dùng.

2. Năm 1934, Simon Kutznets, một nhà kinh tế học và quan chức cấp cao của Cục nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (National Bureau of Economic Research – NBER), tạo ra khái niệm GDP (Gross Domestic Product – Tổng Sản phẩm Quốc nội) cho một báo cáo nộp Quốc hội Mỹ. GDP được định nghĩa là tổng giá trị thị trường của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ cuối được sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Từ “cuối” có nghĩa các hàng hoá/dịch vụ trung gian sẽ không được tính. Ví dụ: giá trị thị trường của động cơ xe không được tính vào GDP; giá trị thị trường của chiếc xe thì sẽ được tính vào. Điều này có nghĩa là giá trị hàng hoá/dịch vụ cuối đã bao gồm giá trị của hàng hoá/dịch vụ trung gian.

3. Theo nghiên cứu của Claudia Goldin, một nhà kinh tế học tại Harvard và NBER, vai trò kinh tế của người phụ nữ phát triển qua 4 giai đoạn. Trong đó, đáng chú ý nhất là giai đoạn 3 (1950-1970). Cụ thể, phụ nữ đã kết hôn độ tuổi 35-44 đi làm tăng từ 25% đến 46% trong vòng 20 năm. Nếu để ý, đây là khoản thời gian máy giặt trở nên phổ biến. Trong một bài nghiên cứu, ba nhà kinh tế học Jeremy Greenwood, Ananth Seshadri và Mehmet Yorukoglu kết luận những loại máy gia dụng như máy giặt đã “giải phóng” phụ nữ khỏi việc nhà, cho họ nhiều thời gian hơn để làm những việc khác. Cụ thể, trước khi có máy giặt, phụ nữ tốn gần 4 tiếng để giặt 17kg quần áo. Với máy giặt, họ chỉ cần 41 phút. Ngoài máy giặt, các phát minh mới như bếp ga, bàn ủi, máy hút bụi… cũng góp phần vào việc “giải phóng” phụ nữ một cách đáng kể, tạo điều kiện cho họ đi làm thay vì chỉ ở nhà lo nội trợ.

4. Kutznets cảnh báo rằng GDP không phải là thước đo tốt cho “well-being” (tạm dịch: phúc lợi/hạnh phúc) của một quốc gia. GDP chỉ đo lường tổng giá trị thị trường, tức mọi hoạt động không được đưa lên thị trường và gắn một cái giá thì không được tính vào GDP. Điều này đặc biệt ảnh hưởng đến phụ nữ: một phần lớn các hoạt động nội trợ do phụ nữ đảm nhiệm, và những hoạt động này không được định giá nên không được tính vào GDP. Trước 1950, khi máy giặt chưa đại trà, một phần lớn thời gian và công sức được dành cho việc giặt giũ. Lượng thời gian và công sức này không được tính vào GDP vì nó không phải là hoạt động định giá bởi thị trường. Tuy nhiên, không thể nói cái gì không có giá trị thị trường là vô nghĩa: nếu không giặt giũ, liệu đời sống (và công việc) thường ngày có đựơc diễn ra trơn tru? Gary Becker, người đạt giải Nobel kinh tế 1992, lập luận rằng vì tập trung vào nội trợ, phụ nữ sẽ có ít kinh nghiệm làm việc hơn đàn ông, và vì thế được trả lương ít hơn và hay bị bỏ qua các cơ hội thăng chức. Kể từ khi máy giặt trở nên phổ thông, số lượng phụ nữ đi làm tăng cao, và khoảng thời gian này cũng là khoảng thời gian tăng trưởng kinh tế mạnh ở các nước châu Âu và Hoa Kỳ.

5. Hiện tại, các công việc nội trợ không còn chiếm nhiều thời gian như xưa, nhưng ở những nước đang phát triển như Việt Nam, không phải hộ nào cũng có điều kiện để mua sắm máy gia dụng. Chưa kể, có những việc nội trợ mà máy móc không giúp được, như chăm sóc và nuôi dạy con. Vào giờ tan tầm trường mẫu giáo hoặc cấp 1, không khó để thấy phần đông phụ huynh đón con là những bà mẹ. Những hoạt động của những bà mẹ như lau dọn nhà cửa, giặt giũ, nấu nướng, chăm sóc con em… đều có những hoạt động thị trường tương đương (thuê người giúp việc, bảo mẫu, đi ăn nhà hàng…) nhưng lại không được tính vào GDP và không được tính là “làm ra tiền”. Hãy thử trả lời một câu hỏi nhỏ: nếu công việc nội trợ được tính với giá cả thị trường, thì lương người vợ nội trợ sẽ là bao nhiêu? Corey Herbert, một người dùng trên trang hỏi đáp Quora, ước tính anh sẽ phải trả vợ anh $231,875/năm. Để dễ so sánh, lương tổng thống Mỹ là $400,000/năm, lương trung bình của 1 giáo sư đại học là $74,000/năm, và thu nhập bình quân đầu người của Mỹ là $56,084/năm. (Xem ước tính của Herbert tại đây.)

6. Tham khảo:

  • Druccillia K.Barker và Susan F. Feiner (2004): ‘Liberating Economics: Feminist Perspectives on Families, Work, and Globalization’ (Nhà xuất bản Đại học Michigan – Ann Arbor)
  • Claudia Goldin (2006): ‘The quiet revolution that transformed women’s employment, education, and family’ (American Economic Review)
  • Jeremy Greenwood, Ananth Seshadri và Mehmet Yorukoglu (2005): ‘Engines of Liberation’ (Review of Economic Studies)
  • Gary Becker (1985): ‘Human capital, effort, and the sexual division of labor’ (Journal of Labor Economics)
Posted in Xã hội | Leave a comment